vanban.org

Bản án 64/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu Tuyên án 17/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phu Phì H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

Về hình phạt: Bộ luật hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phu Phì H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
\TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG THỔ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2022/HS - ST
Ngày: 17/6/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương.

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Chẻo Lao U - Ông Tao Văn Sơn

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phong Thổ

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà: Bà Lê Ngọc Trang - Kiểm sát viên

Ngày 17/6/2022 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Mồ Sì San, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2022/TLST - HS, ngày 26/5/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2022/QĐXXST - HS ngày 03/6/2022 đối với bị cáo:

Phu Phì H (Tên gọi khác: Không); sinh năm: 1997; nơi sinh: Huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu;

Nơi ĐKHKTT: Bản Sin Chải, xã Sì Lở Lầu, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Hà Nhì; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Ông Phu Gà Pá, sinh năm: 1980, mẹ đẻ bà Lù Dá Gư, sinh năm: 1982; mẹ kế bà Chang Thồ Bứ, sinh năm: 1965; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27/01/2022 đến ngày 30/01/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Mạnh H - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lai Châu. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 26/01/2022, Phu Phì H quen biết một người đàn ông ở Điện Biên là công nhân làm đường tại xã Sì Lở Lầu, huyện Phong Thổ, H cũng không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể người đàn ông này ở đâu, qua nói chuyện và quen biết đến ngày 27/01/2022 người đàn ông này rủ H đi tìm mua Heroine về để cùng nhau sử dụng, H đồng ý và người đàn ông đó dùng xe máy của mình chở H đi lên bản Phố Vây, xã Sì Lở Lầu, huyện Phong Thổ tìm mua Heroine, tại đây hai người gặp một người phụ nữ không quen biết, sau đó H là người hỏi mua Heroine của người phụ nữ đó, còn người đàn ông đó đưa 300.000 đồng cho H đi mua ma túy. H mua được 04 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu hồng của người phụ nữ đó với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, H cất giấu trong bao thuốc lá Thăng Long và cất trong túi áo đang mặc và người đàn ông đó chở H đi về cùng nhau sử dụng Heroine. Đến 10 giờ cùng ngày khi đi đến đoạn đường thuộc bản Sin Chải, xã Sì Lở Lầu, huyện Phong Thổ thì gặp lực lượng Công an huyện Phong Thổ, người đàn ông đó tăng ga bỏ chạy còn H bị Công an huyện Phong Thổ bắt quả tang tàng trữ trái phép chất ma túy, tổ công tác Công an huyện Phong Thổ lập biên bản phạm tội quả tang thu giữ 04 gói chất bột màu trắng chất ma túy; 01 xi lanh đã qua sử dụng; 01 bật lửa màu đỏ.

Ngày 27/01/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Thổ đã tiến hành mở niêm phong và cân tịnh 04 mẫu chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Phu Phì H có khối lượng 0,36 gam. Cơ quan điều tra đã lấy toàn bộ chất bột khô, màu trắng, vón cục của H gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 168/KL-KTHS ngày 29/01/2022 của PHng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “04 mẫu chất bột màu trắng gửi đến giám định là chất ma túy, loại Heroine”.

Vật chứng còn lại của vụ án là: 01 bật lửa màu đỏ; 01 xi lanh đã qua sử dụng; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và toàn bộ vỏ phong bì niêm phong cũ; các mảnh nilon và 01 mảnh giấy hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ.

Bản cáo trạng số: 40/CT - VKS ngày 26/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Phu Phì H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; 38

- Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phu Phì H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 - Bộ luật hình sự; Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa màu đỏ; 01 xi lanh đã qua sử dụng; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và toàn bộ vỏ phong bì niêm phong cũ; các mảnh nilon và 01 mảnh giấy. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 - Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số, nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế, sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy dẫn đến vi phạm pháp luật. Do đó Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, tuy nhiên về mức hình phạt có phần nghiêm khắc. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 50 - Bộ luật Hình sự xem xét mức hình phạt thấp nhất đối với bị cáo và miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.

Bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm cũng không có ý kiến gì và nhất trí với bản cáo trạng, không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 27/01/2022, tại địa phận thuộc bản Sin Chải, xã Sì Lở Lầu, huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu Phu Phì H bị Công an huyện Phong Thổ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang có hành vi tàng trữ trái phép 04 gói chất bột màu trắng. Kết quả giám định 04 gói chất bột màu trắng kết luận là ma túy, loại Heroine có khối lượng là 0,36 gam. Như vậy Phu Phì H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 0,36 gam Heroine.

Xét thấy bị cáo là người nghiện chất ma túy nên mục đích mua ma túy về sử dụng ngoài ra không có mục đích nào khác, khối lượng chất ma túy bị cáo tàng trữ trái phép là 0,36 gam Heroine. Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ truy tố bị cáo về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 điều 249 - Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được mọi hành vi liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

[3] Tại phiên tòa người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, 2 điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt thấp nhất đối với bị cáo và miễn án phí cho bị cáo. Việc người bào chữa đề nghị về áp dụng điều luật là có căn cứ nên cần chấp nhận, việc đề nghị xem xét mức thấp nhất của khung hình phạt của người bào chữa chưa phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo nên HĐXX không chấp nhận. HĐXX chấp nhận một phần đề nghị của người bào chữa về xem xét hình phạt cũng như miễn án phí và miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật còn hạn chế nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Xét về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự án, tuy nhiện bị cáo là người nghiện chất ma túy và không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân dẫn đến vi phạm pháp luật, nên cũng cần phải có một mức án nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng tHi cũng răn đe pHng ngừa chung cho toàn xã hội.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét về điều kiện kinh tế của bị cáo còn khó khăn, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 - Bộ luật hình sự

[8] Về vật chứng: 01 bật lửa màu đỏ; 01 xi lanh đã qua sử dụng; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và toàn bộ vỏ phong bì niêm phong cũ; các mảnh nilon và 01 mảnh giấy cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông Phu Phì H khai đưa tiền và rủ H đi mua ma túy, H khai không rõ tên tuổi địa chỉ ở đâu, ngoài lời khai của H không có tài liệu nào khác chứng minh, do vậy không có căn cứ để điều tra xử lý đối với người đàn ông có hay không hành vi đồng phạm với Phu Phì H.

Về nguồn gốc số Heroine bị cáo khai mua của một người phụ nữ không rõ lai lịch nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở khu vực thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo Quyết định số: 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Ủy ban dân tộc về phê duyệt thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, tại phiên tòa bị cáo đã đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm, nên Hội đồng xét xử chấp nhận miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phu Phì H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

1. Về hình phạt:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, 2 điều 51; Điều 38

- Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phu Phì H 02 (hai) năm tù, bị cáo được khấu trừ 03 ngày tạm giữ (từ ngày 27/01/2022 đến ngày 30/01/2022). THi hạn thi hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Về vật chứng: Căn cứ vào điều 47 - Bộ luật hình sự và điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa màu đỏ; 01 xi lanh đã qua sử dụng; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và toàn bộ vỏ phong bì niêm phong cũ; các mảnh nilon và 01 mảnh giấy.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/6/2022 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ với Chi cục THADS huyện Phong Thổ).

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15; khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu./. Nơi nhận:

Cỡ chữ