vanban.org

Bản án 64/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk R'Lấp, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 18/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Thị N phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Thị N 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 18/11/2022. Giao bị cáo Thị N cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thị N phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Thị N phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK R’LẤP
TỈNH ĐẮK NÔNG
---------------------------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2022/HS-ST
Ngày: 18-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R’LẤP, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Quy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Như Tạ và bà Phan Thị Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Vân - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Phan Minh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 18-11-2022, tại phòng xét xử - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2022/TLST-HS ngày 04-11-2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2022/QĐXXST-HS ngày 07-11-2022 đối với bị cáo:

Thị N, sinh ngày 20/02/2003, tại tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: Bon P, xã Đắk N, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: M’Nông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Điểu S, sinh năm 1976 và bà Thị T, sinh năm 1979; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại - có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Mai Thị H và bà Nguyễn Thị X- là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Nông - có mặt.

Bị Hại: Chị Thị L (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Tăng Hồng T, sinh năm 1979; Bon P, xã Đắk N, huyện T, tỉnh Đắk Nông - có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Y Căn B, sinh năm 1996 và anh Kôih N, sinh năm 2001.

Cùng địa chỉ: Buôn K, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk - có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thị N, sinh năm 2003 sinh sống tại bon Phi Lơ Te, xã Đắk Ngo, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông. Mặc dù chưa có giấy phép lái xe hạng A1 nhưng Thị N vẫn đăng ký sở hữu và điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 48K1-150.45 có dung tích xy-lanh là 109,5cm3 để làm phương tiện đi lại hàng ngày.

Khoảng 09h00’ ngày 12-8-2022, Thị N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 48K1-150.45, chở dì ruột là chị Thị L (sinh năm 1985, trú cùng bon với Thị N) đi từ xã Đ đến thôn 3, xã Q để tham dự đám thôi nôi người quen. Đến khoảng 11h50’ cùng ngày, sau khi xong đám thôi nôi, Thị N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 48K1-150.45 chở chị Thị L lưu thông trên QL14 (đường Hồ Chí Minh) theo hướng Đ đi B để về lại xã Đ. Trên đường đi, Thị N và chị Thị L thống nhất đi vào chợ Q để mua trái cây về ăn. Do đó, khi đến Km 1938+900 QL14 thuộc địa phận thôn 2, xã Q, huyện ĐắR’lấp (đoạn đường trước chợ Q), Thị N cho xe chạy chậm lại để chuẩn bị chuyển hướng qua đường. Lúc này, Thị N quay mặt lại phía sau để quan sát thì thấy có 01 chiếc xe ô tô đang chạy cùng chiều phía sau. Do đó, Thị N tiếp tục điều khiển xe đi chậm để chờ chiếc xe ô tô vượt lên. Sau khi chiếc xe ô tô vượt lên, Thị N không bật đèn tín hiệu báo rẽ trái, cũng không quan sát phía sau mà bất ngờ điều khiển xe chuyển hướng sang bên trái để đi vào chợ Q. Cùng lúc này, đi cùng chiều phía sau có xe mô tô biển kiểm soát 47L1-052.95 do anh Y Căn B điều khiển, chở anh Y Kôih N ngồi phía sau đi tới. Do Thị N chuyển hướng bất ngờ, không có tín hiệu báo rẽ và khoảng cách giữa 02 phương tiện gần nhau nên anh Y Căn B không kịp xử lý. Vì vậy, phần đầu xe mô tô do anh Y Căn B điều khiển đã va chạm với phần hông bên trái của xe mô tô do Thị N điều khiển. Sau va chạm, 02 xe mô tô và những người ngồi trên xe bị ngã xuống đường, chị Thị L bị thương nặng, chết tại hiện trường; Thị N, anh Y Căn B và anh Y Kôih N bị thương nhẹ, 02 xe mô tô bị trầy xước.

Sau khi tiếp nhận thông tin sự việc, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’lấp phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’lấp tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông. Căn cứ chiều hướng lưu thông của 2 phương tiện, dấu vết để lại tại hiện trường, trên phương tiện giao thông và hình ảnh trích xuất từ camera an ninh của Công an xã Q xác định đoạn đường xảy ra tai nạn có chiều rộng mặt đường là 11m, điểm va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển kiểm soát 47L1-052.95 với xe mô tô biển kiểm soát 48K1-150.45 nằm trên phần đường bên phải theo chiều đi của anh Y Căn B, cách mép phải QL14 (theo chiều đi của anh Y Căn B) là 3m55cm.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số: 97/TT ngày 30/8/2022, của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Nông kết luận: Nguyên nhân tử vong của chị Thị L là do chấn thương sọ não. Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong khí thở của Thị N và anh Y Căn B là 0,000mg/l. Kết quả xét nghiệm chất mà túy của anh Y Căn B là âm tính.

Tại Cáo trạng số: 77/CT-VKS-ĐL ngày 02-11-2022, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông đã truy tố Thị N về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Việc xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị HĐXX chấp nhận ngày 30/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’lấp đã ban hành quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 48K1-150.45 và giấy chứng nhận đăng ký xe cho chủ sở hữu là Thị N; trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47L1-052.95, giấy chứng nhận đăng ký xe và giấy phép lái xe cho chủ sở hữu là anh Y Căn B.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường số tiền 30.000.000 đồng cho gia đình bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và có đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại phiên toà, người bào chữa cho bị cáo xác định: Bị cáo Thị N có hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn, thuộc diện hộ nghèo, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại, phía đại diện hợp pháp của bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự gì nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa và sống có ích cho gia đình, xã hội.

Tại phiên toà, đại diện hợp pháp của bị hại xác định, bị cáo đã bồi thường số tiền 30.000.000 đồng cho gia đình bị hại, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và có đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Y Căn B và anh Kôih N xác định: Việc để xảy ra tai nạn là do lỗi của Thị N, anh Y Căn B và anh Kôih N, người và xe chỉ bị trầy xước nhẹ nên không yêu cầu gì, đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk R’Lấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp lưu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 11h50’ ngày 12/8/2022, tại Km 1938+900 QL14 thuộc địa phận thôn 02, xã Qhuyện Đ, tỉnh Đắk Nông mặc dù chưa có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 nhưng Thị N vẫn điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, BKS 48K1-150.45, dung tích xy-lanh là 109,5cm3 chở chị Thị L và khi đang tham gia giao thông thì chuyển hướng xe không đúng quy định dẫn đến va chạm với xe mô tô BKS 47L1-052.95 do anh Y Căn B điều khiển chở anh Kôih N đi cùng chiều phía sau. Hành vi chuyển hướng xe không có tín hiệu báo hướng rẽ, không đảm bảo an toàn và không có giấy phép lái xe của Thị N đã vi phạm khoản 1, khoản 2 Điều 15 và khoản 9 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ, dẫn đến tai nạn giao thông làm chị Thị L chết.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 97/TT ngày 30/8/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Nông kết luận: Nguyên nhân tử vong của chị Thị L là do chấn thương sọ não.

Do đó, có đủ căn cứ pháp lý để kết luận Thị N phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

“Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

…”

[3]. Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm mà bị cáo đã gây ra là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ đã gây tai nạn giao thông làm chị Thị L tử vong. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi vô ý. Do vậy, cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4]. Về tình tiết định khung hình phạt: Tại thời điểm xảy ra tai nạn, bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, BKS 48K1-150.45, dung tích xy-lanh là 109,5cm3 tham gia giao thông nhưng không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1. Vì vậy, hành vi của bị cáo bị áp dụng tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

[5]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Thị N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 30.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm; bị cáo là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng nhằm giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6]. Về quyết định hình phạt: Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Thị N có đủ điều kiện để áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo mà không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung trong xã hội.

[7]. Tại phiên tòa, xét quan điểm bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Thị N dưới khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo thì chỉ có một phần có căn cứ được cần chấp nhận.

[8]. Tại phiên tòa, qua phần tranh luận, xét quan điểm về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo Thị N là có căn cứ nên Hội đồng xét xử xử cần chấp nhận.

[9]. Việc xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận ngày 30/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’lấp đã ban hành quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 48K1-150.45 và giấy chứng nhận đăng ký xe cho chủ sở hữu là Thị N; trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47L1-052.95, giấy chứng nhận đăng ký xe và giấy phép lái xe cho chủ sở hữu là anh Y Căn B.

[10]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 30.000.000 đồng; người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Toà án không đề cập giải quyết.

[11]. Đối với anh Y Căn B, tại thời điểm xảy ra tại nạn có giấy phép lái xe mô tô hạng A1, điều khiển xe mô tô đi đúng phần đường. Khi va chạm với xe mô tô do Thị N điều khiển thuộc sự kiện bất ngờ nên không phải chịu trách nhiệm hình sự là phù hợp và cần chấp nhận.

[12]. Về án phí: Do gia đình bị cáo Thị N là hộ nghèo nên bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[13]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Thị N phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Thị N 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 18/11/2022.

Giao bị cáo Thị N cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 30.000.000 đồng; người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Toà án không đề cập giải quyết.

3. Việc xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận ngày 30/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’lấp đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 48K1-150.45 và giấy chứng nhận đăng ký xe cho chủ sở hữu là Thị N; trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47L1-052.95, giấy chứng nhận đăng ký xe và giấy phép lái xe cho chủ sở hữu là anh Y Căn B.

4. Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ