vanban.org

Bản án 64/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 19/12/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Võ Thị Bé Ph.

Giao bị cáo Nguyễn Thị L cho Ủy ban nhân dân xã Ia Pia, huyện Ch, tỉnh Gia Lai nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị L - phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản (điều 176 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Võ Thị Bé Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 176 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2022/HS-PT
Ngày 19-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Võ Văn Bình

Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Hà; ông Nguyễn Văn Sinh

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Nga – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Đinh Ê Ban Mỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai và tại điểm cầu thành phần trụ sở Toà án nhân dân huyện Ch, tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2022/TLPT-HS ngày 17 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Thị L. Do có kháng cáo của bị hại Võ Thị Bé Phđối với Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2022/HS-ST ngày 9 tháng 9 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Ch, tỉnh Gia Lai;

Bị cáo bị kháng cáo:

Nguyễn Thị L, sinh ngày 09 tháng 10 năm 1987, tại huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; Trú tại: Làng Ngó, xã Ia Pia, huyện Ch, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Hàm Th, sinh năm 1960 và bà Trần Thị H, sinh năm 1960; Bị cáo có chồng là Nguyễn Bá V, sinh năm 1977; Bị cáo có 04 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại có kháng cáo: Bà Võ Thị Bé Ph(Tên thường gọi: Thúy), sinh năm 1988; Địa chỉ: tổ dân phố 4, phường Nghĩa Th, thành phố Gia Ngh, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt không có lý do

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu năm 2020, chị Võ Thị Bé Ph(Tên thường gọi: Thúy) có quen biết, làm ăn mua bán chanh dây với Nguyễn Thị L, và thường thanh toán tiền mua chanh dây cho L bằng hình thức chuyển khoản thông qua ứng dụng ngân hàng Sacombank Pay nên trong danh bạ thụ hưởng của chị Ph có lưu tài khoản của Nguyễn Thị L.

Từ ngày 09/10/2021 đến ngày 11/10/2021, chị Võ Thị Bé Phcó mua 190kg Bơ của chị Huỳnh Thị L tại thành phố Gia Ngh, tỉnh Đắk Nông nên vào lúc 03 giờ 22 phút ngày 14/10/2021 chị Ph đã dùng ứng dụng Sacombank Pay trong điện thoại di động của mình để thanh toán số tiền mua quả bơ cho chị Huỳnh Thị L là 26.000.000 đồng. Tuy nhiên do sơ suất khi thực hiện thao tác chuyển tiền nên chị Ph đã bấm chuyển số tiền 26.000.000 đồng trên đến số tài khoản của Nguyễn Thị L, nội dung chuyển khoản là “thuy ck”.

Sau khi biết mình đã chuyển nhầm tiền thì khoảng 13 giờ cùng ngày, chị Ph đã nhắn tin và gọi điện thoại cho Nguyễn Thị L để xin lại số tiền 26.000.000 đồng nhưng L không trả lời. Chị Ph đã đến ngân hàng Sacombank chi nhánh tỉnh Đắk Nông để đề nghị thu hồi số tiền mình chuyển nhầm trên thì được ngân hàng cho biết số tiền này đã được chuyển đến tài khoản khác và đã hết tiền. Ngày 17/10/2021, chị Ph có nhờ người thân là anh Bùi Văn Hải đến nhà của Nguyễn Thị L yêu cầu L trả lại số tiền cho chị Ph, tuy nhiên L nói không quen biết ai là Võ Thị Bé Ph. Riêng số tiền 26.000.000 đồng, L đã chuyển tiền sang tài khoản của chị Cao Thị H để lấy tiền mặt sử dụng, chuyển mừng nhà mới và trả nợ cho Nguyễn Thị Ch và Đặng Bá A và rút tiền mặt tại cây ATM để sử dụng vào việc cá nhân. Ngày 25/10/2021, chị Ph có đơn trình báo gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Ngh, tỉnh Đắk Nông.

2. Tại Bản án hình sơ sơ thẩm số 26/2022/HS-ST ngày 9 tháng 9 năm 2022, Toà án nhân dân huyện Ch, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 176; Điều 38; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự,

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 9 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng, tính từ ngày tuyên án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm, tuyên quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

3. Kháng cáo của bị hại: Bị hại chị Võ Thị Bé Phcó đơn kháng cáo đề nghị không cho bị cáo Nguyễn Thị L được hưởng án treo

4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử, mong HĐXX khoan hồng, cho bị cáo hưởng án treo, cải tạo tại địa phương

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai cho rằng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đối chiếu với các quy định về án treo thì bị cáo đủ các điều kiện được hưởng án treo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo 9 tháng tù, cho hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị hại chị Võ Thị Bé Phđã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, nhưng vắng mặt tại phiên toà không có lý do. Căn cứ vào Điều 351 Bọ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm: Khi biết chị Võ Thị Bé Phđã chuyển nhầm số tiền 26.000.000 đồng vào tài khoản cá nhân của mình, nhưng bị cáo cố tình không trả lại số tiền đó cho bị hại, mà chiếm giữ, sử dụng vào mục đích cá nhân. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 176 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị hại thấy rằng: bị cáo Nguyễn Thị L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trả lại toàn bộ số tiền chiếm giữ cho bị hại; nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi 4 con, trong đó có con nhỏ sinh năm 2020 là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào nhân thân bị cáo, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả nguy hiểm của hành vi, đối chiếu các quy định của pháp luật, xử phạt bị cáo 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là phù hợp và cũng đủ tác dụng trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho người phạm tội có cơ hội sửa chữa sai lầm. Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị hại.

Vì các lẽ trên,

T ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điều 351; điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự

Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Võ Thị Bé Ph. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 26/2022/HS-ST ngày 09/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ch, tỉnh Gia Lai về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị L

Áp dụng khoản 1 Điều 176; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 09 (chín) tháng tù về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 09/9/2022.

Giao bị cáo Nguyễn Thị L cho Ủy ban nhân dân xã Ia Pia, huyện Ch, tỉnh Gia Lai nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ