- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Lê Thị M được ly hôn với anh Trương Công B.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ ________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2022/HNGĐ-ST Ngày: 15/8/2022 “V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị Mộng Trinh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Tú Nam và bà Phạm Thị Ngọc Huế
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Tứ - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế: Bà Nguyễn Lê Diệu Hảo - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 105/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị M, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn H, xã B Thành, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
- Bị đơn: Anh Trương Công B, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn H, xã B Thành, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tiến hành tố tụng, nguyên đơn chị Lê Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trương Công B sau thời gian tìm hiểu hai bên đã tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B Điền, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 15/6/2011. Quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã, anh Trương Công B không chịu làm ăn chăm sóc gia đình, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2021 đến nay, không ai quan tâm chăm sóc gì đến nhau. Vì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể chung sống với nhau được nữa, chị không còn tình cảm với anh B nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn
Về con chung: Vợ chồng có 03 người con chung Trương Công Sang, sinh ngày 23/9/2011; Trương Công Ngọc Quý, sinh ngày 04/5/2014; Trương Ngọc A, sinh ngày 13/02/2018, hiện nay các con đang ở cùng chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 người con đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh B cấp dưỡng cho con bởi bản thân chị đủ khả năng nuôi dưỡng các con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Trương Công B: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các giấy triệu tập và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho anh B đến tham gia tố tụng tại Tòa án nhưng anh B vẫn cố tình vắng mặt nên không có lời khai.
Ngày 28/6/2022, Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà đã tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân xã B Thành, nơi anh B cư trú: Quá trình chung sống vợ chồng chị M, anh B có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã và vợ chồng sống ly thân khoảng hơn một năm nay.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự. Anh B là bị đơn vắng mặt lần hai không có lý do, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ các quy định pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị M; về con chung: Giao cháu Trương Công Sang, sinh ngày 23/9/2011; Trương Ngọc Quý, sinh ngày 04/5/2014; Trương Ngọc A, sinh ngày 13/02/2018 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con. Án phí ly hôn chị M phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Bị đơn anh Trương Công B trú tại Thôn H, xã B Thành, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế nay có tranh chấp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà theo quy định tại các Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, anh B là bị đơn vắng mặt lần hai không có lý do, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
2.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị M và anh Trương Công B tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B Điền (nay là xã B Tiến), thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 15/6/2011 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã, anh Trương Công B không quan tâm đến gia đình, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2021 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Chị M không còn tình cảm với anh B nên kiên quyết xin ly hôn. Anh B biết rõ vụ kiện nhưng không đến Tòa để hòa giải, chứng tỏ không có thiện chí hàn gắn mà bỏ mặc quan hệ hôn nhân của mình. Do đó đủ cơ sở khẳng định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục, tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M.
2.2 Về con chung: Vợ chồng chị M- anh B có 03 người con chung là Trương Công S, sinh ngày 23/9/2011; Trương Công Ngọc Q, sinh ngày 04/5/2014 và Trương Ngọc A, sinh ngày 13/02/2018.
Nếu ly hôn, chị M có nguyện vọng được nuôi cả ba cháu Trương Công S, Trương Ngọc Q, Trương Ngọc A và tự nguyện không yêu cầu anh B cấp dưỡng. Tại biên bản lấy ý kiến, cháu Trương Công Sang và Trương Ngọc Quý đều trình bày mong muốn được ở cùng mẹ là chị M. Xét hiện chị M đang nuôi dưỡng cả 03 cháu, các cháu đang sinh sống và học tập ổn định và có nguyện vọng được ở cùng mẹ, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị M, giao cả 03 con cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các con trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị M tự nguyện không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
2.3 Về tài sản chung, nợ chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án, anh B không đến Tòa án, cũng không gửi văn bản ý kiến của mình về vấn đề tài sản chung và nợ chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí ly hôn: Chị Lê Thị M phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Lê Thị M được ly hôn với anh Trương Công B.
2. Về con chung: Giao cháu Trương Công S, sinh ngày 23/9/2011; Trương Công Ngọc Q, sinh ngày 04/5/2014 và Trương Ngọc A, sinh ngày 13/02/2018 cho chị Lê Thị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi; anh Trương Công B không phải cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí: Chị Lê Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 1310 ngày 19/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế nên chị M không phải nộp thêm.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TT. Huế; - VKSND TX. Hương Trà; - Chi cục THADS TX. Hương Trà; - UBND xã B Tiến (Đăng ký ngày: 15/6/2011); - Các đương sự; - Lưu dán; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Mộng Trinh |