vanban.org

Bản án 64/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H đối với anh Nguyễn Thanh Nh Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị H với anh Nguyễn Thanh Nh Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị Hẹn với anh Nhàn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 64/2022/HNGĐ-ST
Ngày 13/5/2022
V/v tranh chấp:“ Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Ngọc Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Sơn

2. Ông Trần Ngọc Toàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nhựt - Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 48/2022/TLST–HNGĐ ngày 09/02/2022, về việc tranh chấp: “Ly hôn”

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1986

Địa chỉ: Phường MB, thành phố LX, tỉnh AG

Địa chỉ tạm trú: ấp Đ, xã L, huyện PT, tỉnh AG (Có đơn yêu cầu xét xử

vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh Nh, sinh năm 1971

Địa chỉ: Phường MB, thành phố LX, tỉnh AG (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình làm việc tại tòa án nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Thanh Nh do mai mối mới tiến đến hôn nhân và anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường MB, thành phố LX ngày 15/11/2008. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau không còn hạnh phúc giữa hai bên xảy ra nhiều bất đồng nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, cả hai sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, hai bên không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng được. Nay, chị H yêu cầu giải quyết.

- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Nh

- Về quan hệ con chung: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thanh Nh1, sinh ngày 19/9/2007 hiện con chung đang sống cùng chị H. Sau khi ly hôn chị H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Nh cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết

Đồng thời, chị Trần Thị H có đơn yêu cầu được vắng mặt không tham gia phiên tòa

* Bị đơn anh Nguyễn Thanh Nh vắng mặt tại phiên tòa nhưng có ý kiến trình bày thể hiện nội dung: Anh không đồng ý với ý kiến trình bày của chị Trần Thị H về quan hệ hôn nhân và mâu thuẫn giữa vợ chồng. Mặc dù, anh chị cũng đã sống ly thân, khó có khả năng hàn gắn nhưng chị H xin ly hôn thì anh không đồng ý ly hôn do còn thương vợ thương con, giữa vợ chồng chưa có mâu thuẫn nào lớn. Anh chưa đưa ra được giải pháp hàn gắn nhưng thực tế mong muốn sống như hiện nay để tới lui chăm sóc cho con.

- Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thanh Nh1, sinh ngày 19/9/2007 hiện con chung đang sống cùng và được chị H nuôi dưỡng. Trường hợp giải quyết ly hôn chị H yêu cầu nuôi dưỡng con thì anh cũng đồng ý để chị H được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và anh không cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu. Trường hợp con theo anh thì anh nuôi dưỡng không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị H có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Nguyễn Thanh Nh vắng mặt không tham dự phiên tòa.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn giữa chị Trần Thị H với anh Nguyễn Thanh Nh theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Về con chung tên Nguyễn Thanh Nhh, sinh ngày 19/9/2007. Hiện nay, con chung đang được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, nguyện vọng của cháu Nh1 muốn sinh sống với mẹ. Do đó, nhằm đảm bảo ổn định về mặt tinh thần cũng như đảm bảo về quyền lợi về mọi mặt cho con chung nên đề xuất giao con chung cho chị H chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu nên không xem xét. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của vị Kiểm sát viên tham gia phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của vị Kiểm sát viên tham gia phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Anh Nguyễn Thanh Nh mặc dù được tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng anh Nh vẫn không tham dự phiên tòa nên vụ án được tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Trần Thị H có yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của chị H là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[2] Về thẩm quyền: Chị Trần Thị H khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Thanh Nh đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

Về quan hệ hôn nhân:

Theo đơn khởi kiện, ý kiến trình bày tại các buổi làm việc tại tòa án, chị H có ý kiến về quan hệ hôn nhân giữa thì hôn nhân giữa anh chị tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân cả hai có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường MB, thành phố LX ngày 15/11/2008. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau không còn hạnh phúc giữa hai bên xảy ra nhiều bất đồng nguyên nhân do vợ chồng không có tiếng nói chung, cả hai sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, hai bên không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng được.

Bị đơn anh Nguyễn Thanh Nh có ý kiến anh không đồng ý ly hôn theo yêu cầu khởi kiện của chị H vì giữa vợ chồng cự cãi, phát sinh mâu thuẫn không lớn anh vẫn còn thương vợ thương con nên không đồng ý ly hôn nhưng anh Nh cũng thừa nhận giữa vợ chồng đã sống ly thân về kinh tế thì cả hai tự lo không còn chia sẻ với nhau và khó có thể hàn gắn với chị H

Trong quá trình giải quyết vụ án tòa án nhân thành phố Long Xuyên tiến hành lập biên bản đối chất giữa chị H và anh Nh thể hiện nội dung về quan hệ hôn nhân cả hai cùng thống nhất ý kiến trình bày về thời gian kết hôn, thời gian phát sinh mâu thuẫn và thời gian vợ chồng sống ly thân. Anh Nh không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được giải pháp hàn gắn và anh cũng xác định khó có thể hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử nhận thấy, trong cuộc sống hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện chị H cương quyết ly hôn còn anh Nh không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được giải pháp nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng, hôn nhân giữa hai bên không còn tồn tại trên thực tế từ năm 2019 cho đến nay, giữa vợ chồng không còn thực hiện các quyền và nghĩa vụ với nhau, cũng như không có giải pháp nhằm hàn gắn, duy trì cuộc hôn nhân. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn giữa chị Trần Thị H và anh Nguyễn Thanh Nh.

Về con chung: chị H và anh Nh thống nhất trình bày trong thời gian chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Thanh Nh1, sinh ngày 19/9/2007 hiện con chung đang sống cùng chị H, sau khi ly hôn cả chị H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và anh Nh cũng đồng ý để con chung cho chị H nuôi dưỡng và không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét cả chị H và anh Nhà đã thống nhất được về việc nuôi dưỡng con chung, cũng như xét về lợi ích mọi mặt của cháu Nguyễn Thanh Nh1 và theo biên bản lấy ý kiến của con chung do Tòa án thực hiện ngày 23/3/2022 là phù hợp theo nguyện vọng của cháu mong muốn sống cùng với mẹ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu nuôi dưỡng con chung của chị H sau khi ly hôn.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, anh Nh không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định, tuy nhiên chị H xác định không yêu cầu anh Nh phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị H, anh Nh trình bày không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 143; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 186; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 232; khoản 1 Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H đối với anh Nguyễn Thanh Nh

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị H với anh Nguyễn Thanh Nh

Giấy chứng nhận kết hôn số 181/KH/2008 do Ủy ban nhân dân phường MB, thành phố LX, tỉnh AG cấp ngày 15/11/2008 cho chị Trần Thị H, anh Nguyễn Thanh Nh hết hiệu lực kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Sau khi ly hôn chị Trần Thị H nuôi con chung cháu Nguyễn Thanh Nh1, sinh ngày 19/9/2007 đến lúc trưởng thành. Anh Nguyễn Thanh Nh không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không có yêu cầu.

2.3. Chị H phải tạo điều kiện cho anh Nh trong việc trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Việc cấp dưỡng và nuôi con chung không cố định.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm:

4.1. Chị Trần Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000945 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên ngày 08/02/2022. Chị H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4.2. Anh Nguyễn Thanh Nh không phải nộp tiền án phí sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư ngụ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ