vanban.org

Bản án 64/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Trường D được ly hôn với chị Phan Thị Mỹ D1.

2- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia B, giới tính nam, sinh ngày 01/7/2021 cho chị Phan Thị Mỹ D1 nuôi dưỡng (cháu B đang chung sống với chị D1), anh D không phải cấp dưỡng nuôi con, anh D có quyền tới lui chăm sóc giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. 3- Về tài sản chung và nợ chung: An… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Trường D tranh chấp với Phan Thị Mỹ D"
  • Tòa quyết gì? 1- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Trường D được ly hôn với chị Phan Thị Mỹ D1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 64/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 30-9-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Thị Cẩm

2. Bà Quách Thị Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thúy - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 228/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2022 về việc“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên toà số 36/2022/QĐ-TA ngày 15/9/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Trường D, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp Cạnh Đ 2, xã P, huyện V, tỉnh Kiên Giang (có mặt);

- Bị đơn: Chị Phan Thị Mỹ D1, sinh năm 1997; địa chỉ: ấp C, xã P, huyện V, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/7/2022, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Trường D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh D và chị D1 kết hôn năm 2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Phong. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn cự cải, bất hòa dẫn đến không thể chung sống được, vợ chồng sống ly thân 1 năm. Nay anh D yêu cầu được ly hôn với chị D1.

Về con chung: Anh D và chị D1 có 01 người con chung tên Nguyễn Gia B, giới tính nam, sinh ngày 01/7/2021 (hiện cháu B đang chung sống với chị D1), anh D đồng ý giao con cho chị D1 tiếp tục nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Xác định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và không có nợ chung, không ai nợ vợ chồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị D1 để chị trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh D cũng như tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tham gia phiên tòa nhưng chị D1 không nộp bản tự khai cho Tòa án, cố tình trốn tránh, vắng mặt không rõ lý do.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt các quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định; tuy nhiên bị đơn vi phạm những quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh D đối với chị D1. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia B, giới tính nam, sinh ngày 01/7/2021 cho chị D1 tiếp tục nuôi dưỡng, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và không nợ ai nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị D1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Xét thấy, sự vắng mặt của chị D1 không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị D1.

Về quan hệ tranh chấp: Anh D xin ly hôn với chị D1 và yêu cầu giải quyết vấn đề con chung nên quan hệ tranh chấp được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện nên Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận thụ lý giải quyết là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân: Anh D và chị D1 kết hôn vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Phong và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh D và chị D1 chung sống không hạnh phúc, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải, vợ chồng anh D và chị D1 sống ly thân đến nay là 01 năm, trong thời gian ly thân mỗi người sống mỗi nơi, không ai tới lui thăm nhau. Tại phiên tòa, anh D vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với chị D1. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh D và chị D1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận cho anh D được ly hôn với chị D1.

Về con chung: Anh D đồng ý giao con chung là Nguyễn Gia B, giới tính nam, sinh ngày 01/7/2021 cho chị D1 trực tiếp nuôi dưỡng, anh D không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu B dưới 36 tháng tuổi, từ khi anh D và chị D1 sống ly thân cho đến nay chị D1 là người trực tiếp nuôi con chung, cuộc sống của con được đảm bảo, chính quyền địa phương xác nhận chị D1 có đủ điều kiện nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình HĐXX thống nhất giao cháu Nguyễn Gia B, giới tính nam, sinh ngày 01/7/2021 cho chị D1 trực tiếp nuôi dưỡng. Anh D không phải cấp dưỡng nuôi con do chị D1 không yêu cầu, anh D có quyền tới lui chăm sóc giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh D xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 6, Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án anh D là nguyên đơn phải chịu án phí là 300.000đ, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 6, Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Trường D được ly hôn với chị Phan Thị Mỹ D1.

2- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia B, giới tính nam, sinh ngày 01/7/2021 cho chị Phan Thị Mỹ D1 nuôi dưỡng (cháu B đang chung sống với chị D1), anh D không phải cấp dưỡng nuôi con, anh D có quyền tới lui chăm sóc giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

3- Về tài sản chung và nợ chung: Anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và xác định không thiếu nợ ai nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4- Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Trường D phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0003905 ngày 10/8/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận; anh D đã nộp đủ án phí.

5- Nguyên đơn anh D có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn chị D1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ