vanban.org

Bản án 64/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Tuyên án 22/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Bùi Ngọc V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt Bùi Ngọc V 12 ( Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Bùi Ngọc V cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Ngọc V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Bùi Ngọc V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Ý YÊN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2021/HS-ST
Ngày: 22 - 11 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trọng Tảo.

2. Ông Nguyễn Xuân Định.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nam - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2021/TLST-HS ngày 13/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2021/QĐXXST-HS ngày 11/11/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Ngọc V, sinh năm 1977 tại xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ V hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; là Đảng viên sinh hoạt tại chi bộ thôn Bình Hạ - Đảng bộ xã T hiện đã đình chỉ sinh hoạt đảng theo quyết định số 32-QĐ/UBKTHU ngày 15/11/2021 của Ủy ban kiểm tra huyện ủy Ý Yên; con ông Bùi Công D và bà Hoàng Thị H đều trú tại thôn B, xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; vợ: Hoàng Thị Thu Hiền, sinh năm 1983; con: 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

Bị hại: Ông Phạm Xuân C, sinh năm 1958 (đã chết).

Địa chỉ: Đội 8, T, xã C, huyện Y, tỉnh Nam Định.

Người đại diện theo pháp luật của ông C:

Bà Lại Thị X, sinh năm 1959, là vợ ông C;

Địa chỉ: Đội 8, T, xã C, huyện Y, tỉnh Nam Định.

Chị Phạm Thị H, sinh năm 1990, là con gái ông C;

Địa chỉ: N, H, H, Hà Nội.

Anh Phạm Xuân T, sinh năm 1992, là con trai ông C.

Địa chỉ: Đội 8, T, xã C, huyện Y, tỉnh Nam Định.

Chị Phạm Thị Th, sinh năm 1994 - con gái.

Địa chỉ: Đội 8, xã P, huyện Y, tỉnh Nam Định.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà X, chị H, chị Th: Anh Phạm Xuân T, sinh năm 1992. (vắng mặt).

Những người làm chứng:

Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1985; (có mặt).

Anh Phạm Thanh Tn, sinh năm 1981; (vắng mặt).

Ông Nguyễn Hồng L, sinh năm 1960; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Ngọc V ( có lý lịch nêu trên) có giấy phép lái xe theo quy định. Khoảng 21 giờ ngày 20/01/2021 Bùi Ngọc V điều khiển xe ô tô BKS 18C-xx từ nhà chở theo chị Hoàng Thị L di chuyển từ tỉnh lộ 485 theo hướng từ Yên Thọ đi Yên Phương, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định là khu vực đông dân cư sinh sống bên đường. Trong điều kiện trời tối, không mưa, mặt đường trải nhựa phẳng rộng 5,55m, mật độ giao thông ít. V điều khiển xe đi với tốc độ khoảng 54,8km/h - 58,6km/h thì phát hiện phía trước ngược chiều khoảng 20m có xe mô tô BKS 35H7-yy do ông Phạm Xuân C điều khiển đi trên phần đường phía Tây tỉnh lộ 485 đang sang đường theo hướng đi Yên Phương đi Yên Thọ. V đạp phanh, đánh lái sang trái theo hướng đi của mình để tránh do ông C cũng đánh lái sang phải theo chiều đi của mình thì hai phương tiện va chạm với nhau. Bánh trước của xe mô tô va chạm vào ba đờ sốc trước của xe ô tô làm ông C ngã Vg lên đầu xe ô tô, đầu đập vào kính chắn gió phía trước của xe ô tô, xe mô tô đổ nghiêng bên phải, đầu nắm tay lái xe bên phải cày xuống mặt đường tạo vết cày dài 3,3m, ông C ngã ra đường và đẩy lùi về phía sau. Ông C được gia đình đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Việt Đức - Hà Nội. Đến ngày 23/01/2021 ông C tử vong.

Sau khi vụ tai nạn xảy ra các cơ quan chức năng huyện Ý Yên và tỉnh Nam Định đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, tử thi và thu giữ các mẫu vật theo quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giám định số 141/GĐKTHS ngày 29/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Vùng trán thái dương trái có đám trợt da bầm tím không liên tục trên diện 11cm x 7cm; Gò má trái xuống cằm trái trợt da bầm tím không liên tục KT 12cm x 7cm; Vùng giữa trán vòng lên đỉnh trái ra phía trước vành tai trái có đường phẫu thuật được khâu bằng nhiều mối chỉ rời dài 30cm. Tại thái dương trái vết phẫu thuật đang chảy dịch màu hồng; Vùng chẩm có vết trợt da tụ máu kích thước 4cm x 3cm; Chảy máu màng mềm lan tỏa vùng thái dương trái xen lẫn có đám tụ máu. Phù não lan tỏa bán cầu trái; Khuyết xương hộp sọ vùng trán, đỉnh, thái dương trái KT 18cm x 12cm; Gẫy phức tạp 1/3 giữa xương đùi trái. Nguyên nhân chết: Nạn nhân Phạm Xuân C, sinh năm 1958 chết do chấn thương sọ não, tụ máu nội sọ, phù não.

Tại bản kết luận giám định số 340/KLGĐ -PC09 ngày 11/03/2021 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nam Định kết luận: Căn cứ vào hồ sơ của vụ tai nạn giao thông gửi đến giám định, tốc độ của xe ô tô BKS 18C-xx ngay tại thời điểm bắt đầu để lại dấu vết phanh ký hiệu số 6 (điểm đầu dấu vết phanh) ở hiện trường trong khoảng từ 54,8 (km/h) đến 58,6 (km/h).

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 xe mô tô BKS 35H7-yy là vật chứng của vụ án, là phương tiện sở hữu của nạn nhân ông Phạm Xuân C. Gia đình nạn nhân xuất trình đầy đủ giấy tờ, đại diện phía bị hại anh Phạm V T đề nghị không tiến hành định giá để xác định thiệt hại, không yêu cầu phía bị cáo phải bồi thường thiệt hại về tài sản và có đơn xin lại tài sản. Ngày 14/4/2021, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ý Yên đã xử lý vật chứng trả lại cho gia đình bị hại.

Đối với 01 chiếc xe ô tô BKS 18C-xx là vật chứng của vụ án, là phương tiện thuộc sở hữu của bị cáo Bùi Ngọc V, có giấy tờ hợp pháp và có đơn xin lại tài sản, ngày 27/02/2021 Cơ quan CSĐT - Công an huyện Ý Yên đã trả lại cho Bùi Ngọc V.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Bùi Ngọc V đã tự nguyện bồi thường cho gia đình nạn nhân Phạm Xuân C số tiền 240.000.000 đồng; người đại diện theo pháp luật của bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn đề nghị cơ quan pháp luật miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Bùi Ngọc V.

Tại cơ quan điều tra Bùi Ngọc V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Cáo trạng số 64/CT - VKS -YY ngày 13/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên truy tố bị cáo Bùi Ngọc V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trang của Viện kiểm sát. Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xác nhận bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định truy tố về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên trình bày quan điểm luận tội Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự tuyên bố Bùi Ngọc V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt Bùi Ngọc V 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Đã được xử lý trong quá trình điều tra nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ý kiến tranh luận của bị cáo: Bị cáo có ý kiến cho rằng bản luận tội của Viện kiểm sát là hơi gay gắt vì trong vụ án này người bị hại cũng có lỗi.

Ý kiến của kiểm sát viên: Giữ nguyên quan điểm luận tội.

Không còn ai có ý kiến tranh luận gì khác.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo tỏ ra hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét đến yếu tố lỗi trong vụ án để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ý Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận của Bùi Ngọc V tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án như: Sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, bản kết luận giám định pháp y tử thi và lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 20/01/2021 tại tỉnh lộ 485 thuộc địa phận thôn Phù Cầu, xã Yên Phương, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Bùi Ngọc V điều khiển xe ô tô BKS 18C - xx với tốc độ không phù hợp trong điều kiện trời tối, tầm nhìn bị hạn chế, di chuyển trong khu vực đông dân cư. V đã không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn theo quy định nên khi phát hiện phía trước ngược chiều ông Phạm Xuân C điều khiển xe mô tô BKS 35H7 - yy, V đã đạp phanh, đánh lái sang bên trái để tránh nhưng không kịp nên đã xô vào người và xe của ông Phạm Xuân C. Hậu quả làm ông Phạm Xuân C tử vong.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm tính mạng của người khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo hiểu rõ các quy định của pháp luật khi tham gia giao thông đường bộ vì bị cáo đã có bằng lái xe theo quy định. Tuy nhiên bị cáo lại không điều khiển xe với tốc độ phù hợp để bảo đảm an toàn khi tham gia giao thông trong điều kiện trời tối, tầm nhìn bị hạn chế, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn. Hành vi của bị cáo đã vi phạm vào khoản 1 Điều 17 Luật giao thông đường bộ; vi phạm khoản 3 Điều 4, khoản 5 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải. Hậu quả tai nạn xảy ra làm chết 01 người nên bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự như kết luận của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên là có căn cứ.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục một phần hậu quả cho gia đình bị hại; người đại diện theo ủy quyền của bị hại có đơn xin bãi nại, không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; bị cáo có thời gian tham gia quân ngũ và được tặng "Bằng khen" vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong quân đội năm 1998; xét yếu tố lỗi trong vụ án. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo với lỗi vô ý, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo tại địa phương, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách nhất định dưới sự giám sát, giáo dục của C quyền địa phương cũng đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 240.000.000 đồng. Xét sự thoả thuận trên là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức, xã hội nên cần được chấp nhận. Nay gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm nên vấn đề bồi thường trách nhiệm dân sự đối với bị hại Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về vật chứng của vụ án và các tài sản khác đã được giải quyết trong quá trình điều tra nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị hại, người đại diện theo ủy quyền được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố Bùi Ngọc V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt Bùi Ngọc V 12 ( Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Bùi Ngọc V cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2916 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Bùi Ngọc V phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện theo pháp luật của bị hại; người đại diện theo ủy quyền vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ