- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T1 mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn T1 (tên gọi khác: C1) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2021/HS-ST Ngày 27-7-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Liễu Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Duy Pha;
Bà Lương Thị Phượng.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Văn T1 (tên gọi khác: C1); sinh ngày 24 tháng 02 năm 1995 tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P1, xã T2, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn B1 (tên gọi khác: Lê Văn C2) và bà Phù Thị B2; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không có; tiền án: Tại Bản án số 79/2013/HS-ST ngày 09/12/2013 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong ngày 13/11/2018, chưa được xóa án tích; nhân thân: Đã bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị bắt tạm giữ từ ngày 15/3/2021, tạm giam từ ngày 18/3/2021 đến nay. Có mặt.
- Người làm chứng:
1. NLC1; có mặt.
2. NLC2; vắng mặt.
3. NLC3; vắng mặt.
- Người chứng kiến: Anh Lý Văn Q; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 ngày 14/3/2021, Lê Văn T1 một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12V1- 123.** đến ngã ba P2, xã T3, huyện V, tỉnh Lạng Sơn tìm mua ma túy để sử dụng và bán kiếm lời. Tại đây, Lê Văn T1 mua 1.000.000 (một triệu) đồng ma túy với một người đàn ông khoảng 45 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) được 01 (một) gói nilon màu đỏ bên trong chứa chất ma túy, rồi điều khiển xe về nhà. Đến nhà, Lê Văn T1 đem số ma túy ra chia thành 15 (mười lăm) gói nhỏ, gói trong mảnh giấy trắng có dòng kẻ ngang và dùng một mẩu giấy vệ sinh gói lại. Đến khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, NLC3, sinh năm 1996, cư trú tại thôn N1, xã T2, huyện V, tỉnh Lạng Sơn gọi điện thoại cho Lê Văn T1 hỏi mua ma túy; Lê Văn T đồng ý và bán 04 (bốn) gói ma túy cho NLC3 được 390.000 (ba trăm chín mươi nghìn) đồng. Sau đó, Lê Văn T1 sử dụng hết 04 (bốn) gói ma túy. Đến sáng ngày 15/3/2021, NLC2, sinh năm 1982, cư trú tại thôn P3, xã T2, huyện V, tỉnh Lạng Sơn gọi điện cho Lê Văn T1 nói cần mua ma túy, Lê Văn T1 đồng ý và đã bán cho NLC2 01 (một) gói với giá 100.000 (một trăm nghìn) đồng. Đến 08 giờ 20 phút ngày 15/3/2021, khi Lê Văn T1 ngồi trên giường, tay trái cầm 01 (một) gói giấy vệ sinh màu trắng bên trong có chứa 06 (sáu) gói ma túy, đang chuẩn bị sử dụng ma túy thì Tổ công tác Đồn Biên phòng N2 phối hợp với Công an xã T2, huyện V, tỉnh Lạng Sơn đã tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Tổ công tác đã thu giữ của Lê Văn T1: 01 (một) gói giấy vệ sinh màu trắng bên trong có 06 (sáu) giấy nhỏ, bên trong mỗi gói giấy đều chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroine được niêm phong trong phong bì thư ghi chữ “QT Lê Văn T1”; số tiền 290.000 (hai trăm chín mươi nghìn) đồng được niêm phong trong một phong bì; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu itel (cũ) màu đen, đã qua sử dụng bên trong lắp 02 (hai) sim Viettel, có IMEI1: 3519801017092**, IMEI2: 3519801017092**.
Cùng ngày 15/3/2021, Tổ công tác đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Văn T1 nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại Kết luận giám định số 120/KL-PC09, ngày 16/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,214 gam (đã trừ bì)”.
Tại Kết luận giám định số 189/KLGĐ-PC09 ngày 26/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: “Toàn bộ số tiền Việt Nam được niêm phong trong phong bì gửi giám định là tiền thật”.
Tại Cơ quan điều tra, NLC3 khai ngày 14/3/2021 được mua với Lê Văn T1 04 gói ma túy với số tiền 390.000 (ba trăm chín mươi nghìn) đồng; NCL2 khai ngày 15/3/2021 được mua với Lê Văn T1 01 (một) gói ma túy với giá 100.000 (một trăm nghìn) như đã nêu ở trên. Anh Lý Văn Q và NLC1 khai được chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật theo đúng quy định của pháp luật và NLC1 không biết Lê Văn T1 mua bán trái phép chất ma túy.
Tại Cáo trạng số 55/CT-VKS ngày 24/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lê Văn T1 về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như nội dung Cáo trạng đã truy tố; bị cáo thừa nhận bản thân đã hai lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy và biết là vi phạm pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Văn T1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; áp dụng điểm b, q khoản 2 Điều 251, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn T1 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, toàn bộ các vỏ bao gói; tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 290.000 (hai trăm chín mươi nghìn) đồng; truy thu đối với bị cáo số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng để nộp ngân sách nhà nước. Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động bên trong lắp 02 (hai) sim Viettel.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất có thể, để sớm được trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Ngày 14/3/2021, Lê Văn T1 đã dùng 1.000.000 (một triệu) đồng mua được một gói ma túy với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Lê Văn T1 đã chia nhỏ số ma túy ra được 15 (mười lăm) gói và sử dụng hết 04 (bốn) gói. Lê Văn T1 đã 02 (hai) lần thực hiện hành vi bán ma túy, cụ thể: Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 14/3/2021 bán cho NLC3 04 (bốn) gói ma túy được số tiền 390.000 (ba trăm chín mươi nghìn) đồng; khoảng 07 giờ 30 phút ngày 15/3/2021 bán cho NLC2 01 (một) gói ma túy với giá 100.000 (một trăm nghìn) đồng; khi Lê Văn T1 đang chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị Tổ công tác Đồn Biên phòng N2 phối hợp với Công an xã T2, huyện V, tỉnh Lạng Sơn kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ của Lê Văn T1 06 (sáu) gói ma túy Heroine có khối lượng 0,214 gam (đã trừ bì). Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, phù hợp với vật chứng đã thu giữ được, Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Tại Bản án số 79/2013/HS-ST ngày 09/12/2013 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999, là tội rất nghiêm trọng do cố ý, đã chấp hành xong ngày 13/11/2018, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý thuộc vào trường hợp tái phạm nguy hiểm. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lê Văn T1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thấy rằng: Hành vi mà bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân gián tiếp gây ra tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy đối với bản thân và xã hội, nhưng chỉ vì để kiếm lời và có ma túy cho bản thân sử dụng, bị cáo đã bất chấp pháp luật và dư luận xã hội, để thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo có bố đẻ là ông Lê Văn B1 (tên gọi khác: Lê Văn C2) được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Ba, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về nhân thân: Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội, cho thấy bị cáo có nhân thân xấu.
Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết xử phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo biên bản xác minh ngày 21/4/2021 của Cơ quan điều tra và qua xét hỏi công khai tại phiên tòa sơ thẩm thấy rằng: Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, gia đình thuộc hộ cận nghèo, bản thân nghiện ma túy, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy khối lượng ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì thư và toàn bộ các vỏ bao gói là vật Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành và vật không sử dụng được; tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 290.000 (hai trăm chín mươi nghìn) đồng do bị cáo bán ma túy mà có; truy thu đối với bị cáo số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng do bán ma túy mà có để nộp vào ngân sách Nhà nước; tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động bên trong lắp 02 (hai) sim Viettel của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội liên lạc trao đổi, mua bán ma túy.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn về tội danh, hình phạt và xử lý vật chứng phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết họ, tên, địa chỉ, cơ quan điều tra không làm rõ được nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.
Đối với NLC3 và NLC2 là những người đã mua ma túy với Lê Văn T1, Cơ quan điều tra không thu giữ được số ma túy nên không có cơ sở để xử lý; Cơ quan điều tra đã chuyển thông tin đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú để quản lý theo quy định.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12V1-123.**, Lê Văn T1 sử dụng đi mua ma túy, quá trình điều tra xác định được chủ sở hữu là chị Ma Thị D, sinh năm 1985, nơi cư trú: Thôn P1, xã T2, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, chị Ma Thị D không biết việc Lê Văn T1 sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy nên không có căn cứ xử lý. Đối với NLC1 không biết bị cáo mua bán ma túy nên không có căn cứ xử lý.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người bị kết án phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điểm b, q khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ vào khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn T1 (tên gọi khác: C1) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn T1 (tên gọi khác: C1) 07 (bẩy) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 15/3/2021.
3. Về biện pháp tư pháp: Truy thu đối với bị cáo Lê Văn T1 (tên gọi khác: C1) số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
4. Về xử lý vật chứng:
4.1. Tịch thu tiêu hủy: Khối lượng ma túy còn lại sau giám định (0,185 gam chất ma túy Heroine) được niêm phong trong 01 (một) phong bì thư ghi chữ “QT Lê Văn T1” và toàn bộ các vỏ bao gói.
4.2. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 290.000 (hai trăm chín mươi nghìn) đồng đã tạm giữ của bị cáo Lê Văn T1 (tên gọi khác: C1), được để trong 01 (một) phong bì thư (cũ) niêm phong ký hiệu “QT Lê Văn T1” có chữ ký niêm phong của giám định viên Hứa Thành Q và đóng dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn tại phần giáp lai mới.
4.3. Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu itel (cũ) màu đen, đã qua sử dụng, bên trong lắp 02 (hai) sim Viettel, có IMEI1: 3519801017092**, IMEI2: 3519801017092**, của bị cáo Lê Văn T1 (tên gọi khác: C1).
(Vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/6/2021).
5. Về án phí: Bị cáo Lê Văn T1 (tên gọi khác: C1) phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND H. Văn Lãng, T. Lạng Sơn; - CQĐT CA H. Văn Lãng, T. Lạng Sơn; - CQTHAHS CA H. V, T. Lạng Sơn; - Nhà tạm giữ CA H. V, T. Lạng Sơn; - Chi cục THADS H. V, T. Lạng Sơn; - Bị cáo; - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA (Đã ký) Liễu Thị Hạnh |