vanban.org

Bản án 64/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội Tuyên án 25/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Huy D, Nguyễn Thế T, Tạ Quang V, Nguyễn Hoàng S và Cao Việt A phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Nguyễn Huy D 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế T 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Huy D, Nguyễn Thế T, Tạ Quang V, Nguyễn Hoàng S và Cao Việt A phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ỨNG HÒA –TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2021/HS-ST
Ngày: 25-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Bà Nguyễn Thị Vân

+ Bà Nguyễn Thị Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.

- Đại D Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2021 đối với các bị cáo:

Nguyễn Huy D (tên gọi khác là H), sinh năm 1994; Nơi ĐKHKTT: Thôn V, xã T1, huyện Ư, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Huy T2 và bà Tạ Thị D1; vợ: Nguyễn Thị D1; con: có 02 con (lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018); Tiền án, Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 04/7/2021 đến ngày 06/7/2021 được huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú”. (có mặt tại phiên tòa).

Nguyễn Thế T, sinh năm 1992; Nơi ĐKHKTT: Phố N, thị trấn V1, huyện Ư, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế T2 và bà Hoàng Thị L; vợ: Vũ Thị B; con: chưa có; Tiền án, Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 04/7/2021 đến ngày 06/7/2021 được huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú”. (có mặt tại phiên tòa).

Tạ Quang V, sinh năm 1994; Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã T3, huyện Ư, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Văn Đ và bà Trần Thị L; vợ: Nguyễn Thị N; con: có 01 con sinh năm 2020; Tiền án, Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 04/7/2021 đến ngày 06/7/2021 được huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú”. (có mặt tại phiên tòa).

Cao Việt A, sinh năm 1999; Nơi ĐKHKTT: Thôn H1, xã S1, huyện Ư, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn N1và bà Ngô Thị L2; vợ: Đặng Thị Kim H2; con: có 01 con sinh năm 2020; Tiền án, Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 04/7/2021 đến ngày 06/7/2021 được huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú”. (có mặt tại phiên tòa).

Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1986; Nơi ĐKHKTT: Thôn T3, xã H3, huyện Ư, TP. Hà Nội; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng H4 và bà Lê Thị T4; vợ: Lưu Thị T5; con: có 02 con (lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018); Tiền án, Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 04/7/2021 đến ngày 06/7/2021 được huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ, áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú”. (có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Thành C – sinh năm 1982 (vắng mặt); Nơi ĐKHKTT: Phố L2, thị trấn V3, huyện Ư, TP. Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 03/7/2021 có 05 đối tượng gồm: Nguyễn Huy D, sinh năm 1994, trú tại thôn V, xã T1; Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1986, trú tại thôn T3, xã H3; Tạ Quang V, sinh năm 1994, trú tại thôn H2, xã 2; Cao Việt A, sinh năm 1999, trú tại thôn H1, xã S1 và Nguyễn Thế T, sinh năm 1992, trú tại phố N1, thị trấn V2, cùng huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội đều là công nhân làm việc tại Công ty may DHA tại thị trấn Vân Đình. Sau khi tan ca các đối tượng trên rủ nhau đi ăn tối tại quán “Châu Lan”, thuộc thị trấn Vân Đình. Trong lúc ăn uống mọi người rủ nhau đánh liêng được thua bằng tiền, tất cả đồng ý. Ăn song khoảng 21 giờ thì D nói: “Trong cốp xe có bộ bài rồi, anh em mình tìm nhà nghỉ nào rồi chơi”, tất cả đồng ý và đi đến phố Lê Lợi, thị trấn Vân Đình thấy nhà nghỉ “Hải Đăng” mở cửa, nên cả nhóm vào gặp anh Lê Thành C, sinh năm 1982, hộ khẩu thường trú và chỗ ở phố Lê Lợi, thị trấn Vân Đình là chủ nhà nghỉ đang ở quầy lễ tân, Thành hỏi anh Chung thuê phòng thì được anh Chung cho thuê phòng 401 nhà nghỉ và đưa chìa khoá phòng cho Thành, rồi tất cả đi lên phòng ngồi trên giường. Tại đây D bỏ 02 bộ bài tú lơ khơ ra trong đó 01 bộ lưng màu xanh, 01 bọ lưng màu đỏ, D sử dụng bộ có lưng màu xanh chia bài ván bài đầu tiên để cả nhóm cùng nhau đánh liêng được thua bằng tiền. Bộ bài lưng màu đỏ để lại trên giường nhà nghỉ.

Hình thức và thể lệ chơi như sau: Sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân, trước khi chơi mỗi người phải bỏ vào giữa gom 50.000 đồng, người chia bài đầu tiên chia cho mỗi cửa 03 quân bài. Khi mở bài, bài to nhất là Sáp (là bài có 03 quân bài đó giống nhau, sáp Át là to nhất, sáp hai là nhỏ nhất) nếu ai được sáp thì mỗi cửa chơi phải trả thêm cho người được sáp 200.000 đồng; bài to thứ hai là Liêng (là có 03 quân bài liên tiếp nhau, Liêng đồng hoa là 03 quân liên tiếp nhau có cùng một chất), Liêng Q-K-A là to nhất, Liêng nhỏ nhất là 1-2-3; bài to thứ ba là Ảnh (là 03 quân bài đều có hình người, ảnh to nhất là Q-K-K có chất Rô, ảnh nhỏ nhất là J-J-Q màu đen); nhỏ nhất là cộng tính điểm, khi tính điểm thì điểm to nhất là 9, điểm 10 là 0, các quân bài 10, J, Q, K không tính điểm. Sau đó mọi người lên bài, ai chia bài được tố đầu tiên, tố thấp nhất là 50.000 đồng, tố cao nhất là 100.000 đồng, ai theo thì bỏ số tiền tương ứng vào giữa chiếu và có quyền tố thêm, còn ai không theo thì úp bài vào nọc thì bị mất quyền chơi và số tiền đã gom ở ván bài đó, nếu không ai theo thì người tố sau cùng thắng, người thắng được chia bài ván sau.

Sau đó cả Nguyễn Huy D, Nguyễn Hoàng S, Tạ Quang V, Cao Việt A và Nguyễn Thế T đánh bạc liên tục đến 23 giờ 15 phút cùng ngày thì bị Công an Thị trấn Vân Đình kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ:

- 02 bộ tú lơ khơ mỗi bộ 52 quân, 01 bộ có mặt lưng màu đỏ, 01 bộ có mặt lưng màu xanh;

- Thu trên chiếu bạc tổng số tiền 8.800.000 đồng;

Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 61/CT-VKS ngày 07 tháng 9 năm 2021 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa đã truy tố các bị cáo Nguyễn Huy D, Nguyễn Thế T, Tạ Quang V, Cao Việt A và Nguyễn Hoàng S về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của BLHS.

Tại phiên toà: Các bị cáo đã thừa nhận hành vi như bản Cáo trạng đã nêu.

Đại DViện kiểm sát có ý kiến: đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Huy D từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Thế T từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS xử phạt bị cáo Tạ Quang V, Cao Việt A và Nguyễn Hoàng S mỗi bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; các bị cáo đều được trừ 03 ngày tạm giữ bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ; miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

+ Áp dụng Điều 46,Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bộ tú lơ khơ mỗi bộ 52 quân (01 bộ lưng màu đỏ, 01 bộ lưng màu xanh); tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 8.800.000đ (Tám triệu tám trăm nghìn đồng).

+ Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn D các chứng cứ và tài liệu, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa, Điều tra viên Công an huyện Ứng Hòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự và thủ tục theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp, phù hợp với các quy định của BLTTHS.

Tại phiên toà các bị cáo nhận tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, lời khai của bị cáo này là bằng chứng cho lời khai của bị cáo kia và phù hợp với vật chứng đã thu giữ được cùng các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ khẳng định: Khoảng 21 giờ ngày 03/7/2021, tại phòng 401 nhà nghỉ “Hải Đăng” thuộc thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội, các đối tượng Nguyễn Huy D, Nguyễn Hoàng S, Tạ Quang V, Cao Việt A và Nguyễn Thế T đã cùng nhau đánh bạc dưới hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền. Đến 23 giờ 15 phút cùng ngày thì bị Công an Thị trấn Vân Đình phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 8.800.000 đồng.

Hành vi trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của các bị cáo gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng đến lối sống lành mạnh của khu dân cư và là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn gia đình và các tệ nạn xã hội khác. Bản thân các bị cáo đều có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đều nhận thức rõ được tác hại của việc đánh bạc. Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

Xem xét về tính chất, vai trò của các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội: Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo D người khởi sướng, chuẩn bị công cụ - hai bộ bài nên phải chịu hình phạt cao hơn các bị cáo khác. Tiếp đến là bị cáo Thành, bị cáo là người trực tiếp liên hệ với chủ nhà nghỉ và khi tham gia chơi đánh bạc có số tiền lớn nhất. Bị cáo Vinh, Sơn và Việt A đều phạm tội có mức độ ngang nhau và có vai trò ngang nhau trong vụ án, cùng có số tiền tham gia đánh bạc ngang nhau nên cần áp dụng hình phạt ngang nhau. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, đủ để cải tạo giáo dục bị cáo, đồng thời đảm bảo phòng ngừa tội phạm nói chung.

Xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ cho các bị cáo trong vụ án: thấy các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra cũng như tại Toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1Điều 51 BLHS. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo D, bị cáo Thành và cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Vinh, Sơn và Việt A cũng đủ sức răn đe và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung với tất cả các bị cáo.

Đối với anh Lê Thành C, sinh năm 1982, ở phố Lê Lợi, Thị trấn Vân Đình là chủ nhà nghỉ “Hải Đăng”, khi các đối tượng đến thuê phòng anh Chung không biết các đối tượng thuê phòng dùng để đánh bạc, quá trình các đối tượng đánh bạc anh Chung không biết, nên anh Chung không đồng phạm. Tuy nhiên, khi các đối tượng đến thuê phòng anh Chung không yêu cầu mọi người xuất trình chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân cũng như không ghi thông tin người thuê phòng vào sổ lưu trú. Vì vậy Cơ quan CSĐT-Công an huyện Ứng Hoà ra quyết định xử phạt hành chính đối với anh Lê Thành C theo quy định tại điểm d, khoản 1, điều 11, Nghị định 167 của Chính phủ bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền: 8.800.000 đồng thu giữ của các bị cáo đã và sẽ sử dụng để đánh bạc cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước và tịch thu 02 bộ tú lơ khơ mỗi bộ 52 quân (01 bộ lưng màu đỏ, 01 bộ lưng màu xanh) là phù hợp với Điều 46, Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS.

Về án phí, quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại §iÒu 331, Điều 333BLTTHS.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Huy D và bị cáo Nguyễn Thế T.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Tạ Quang V, Nguyễn Hoàng S và Cao Việt A.

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Huy D, Nguyễn Thế T, Tạ Quang V, Nguyễn Hoàng S và Cao Việt A phạm tội “Đánh bạc”.

2. Xử phạt:

+ Xử phạt: Nguyễn Huy D 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng kể từ ngày tuyên án.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế T 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo D cho UBND xã Tảo Dương Văn, huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội; Giao bị cáo Thành cho UBND thị trấn Vân Đình, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội và gia đình quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo D và bị cáo Thành thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

+ Xử phạt: Bị cáo Tạ Quang V, Nguyễn Hoàng S và Cao Việt A mỗi bị cáo 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ và đều được trừ thời gian tạm giữ 03 ngày (từ ngày 04/7/2021 đến ngày 06/7/2021) bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày UBND xã Trường Thịnh, xã Hoa Sơn và xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội nơi các bị cáo cứ trú nhận được quyết định thi hành án hoặc bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

Giao bị cáo Vinh cho UBND xã Trường Thịnh, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội và gia đình quản lý, giáo dục trong thời gian cải tạo.

Giao bị cáo Sơn cho UBND xã Hoa Sơn, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội và gia đình quản lý, giáo dục trong thời gian cải tạo.

Giao bị cáo Việt A cho UBND xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa, TP. Hà Nội và gia đình quản lý, giáo dục trong thời gian cải tạo.

3. Về vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền: 8.800.000đ (Tám triệu tám trăm nghìn đồng). Tịch thu tiêu hủy 02 bộ tú lơ khơ mỗi bộ 52 quân (01 bộ lưng màu đỏ, 01 bộ lưng màu xanh). (Tình trạng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà ngày 22/7/2020 và giấy ủy nhiệm chi ngày 15/7/2020 )

4. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Huy D, Nguyễn Thế T, Tạ Quang V, Nguyễn Hoàng S và Cao Việt A phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết và được kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.

Cỡ chữ