vanban.org

Bản án 64/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị Bùi Thị T đối với anh Dương Công N. Chị Bùi Thị T được ly hôn anh Dương Công N.

Về con chung: Có 01 con chung tên Dương Công T, sinh ngày 18/02/2001. Hiện con chung đã thành niên và có khả năng lao động nên không xét đến Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị T ly hôn với Dương Công N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị Bùi Thị T đối với anh Dương Công N. Chị Bùi Thị T được ly hôn anh Dương Công N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH ĐẠI
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 22/11/2021.
V/v “ly hôn giữa chị Bùi Thị thủy và
Dương Công Nghiệp ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BĐ, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bùi Văn Chiếu

2. Đặng Hoàng Mích

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Quốc Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại tham gia phiên toà:

Nguyễn Thị Thảo Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 115/2021/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2021 về việc: “ ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2021/QĐXXST -HN ngày 04 tháng 10 năm 2021 và quyết định hoãn phiên Tòa số: 15/2021/QĐST-HN ngày 22 tháng 10 năm 2021 giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1977.

Địa chỉ: ấp HT, xã CH, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.

(Chị Bùi Thị T có đơn yêu cầu giải quyết vụ án vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Dương Công N, sinh năm 1978 (Vắng mặt).

Địa chỉ: ấp HT, xã CH, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/01/2021 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án chị Bùi Thị T khai như sau:

Chị và anh Dương Công N chung sống với nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào năm 2000. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc đến tháng 01/2020 thì phát sinh mâu thuẫn do chị và anh Dương Công N sống không hợp nhau và cũng từ đó chị và anh Dương Công N không còn chung sống với nhau. Chị về nhà cha mẹ ruột sống tới nay, hiện nay chị xác định không còn tình cảm với anh Dương Công N nên yêu cầu ly hôn với anh Dương Công N.

Về con chung: có 01 con chung tên Dương Công T, sinh ngày 18/02/2001. Hiện con chung đã thành niên và có khả năng lao động nên chị không có yêu cầu hay ý kiến gì.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: không có.

Anh Dương Công N vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Đối với Thẩm phán chấp hành tốt theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, thực hiện đúng các nguyên tắc do pháp luật quy định.

Đối với những người tham gia tố tụng thì nguyên đơn có chấp hành tốt, riêng bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt là vi phạm nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị T đối với anh Dương Công N.

Về con chung: có 01 con chung tên Dương Công T, sinh ngày 18/02/2001. Hiện con chung đã thành niên và có khả năng lao động nên chị không có yêu cầu hay ý kiến gì, nên ghi nhận.

Về tài sản chung: Chị Bùi Thị T khai hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.

Về nợ chung: Chị Bùi Thị T khai không có nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của kiểm sát viên. HĐXX nhận định:

Về tố tụng: Chị Bùi Thị T có đơn yêu cầu gải quyết vụ án vắng mặt, anh Dương Công N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng không có lý do. Do đó, tiến hành xét xử vắng mặt chị Bùi Thị T và anh Dương Công N là phù hợp với Điều 227, 288 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị Bùi Thị T và anh Dương Công N chung sống với nhau như vợ chồng trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị Bùi Thị T xác định do bất đồng quan điểm và cũng từ tháng 01/2020 chị và anh Dương Công N ly thân nhau cho đến nay. Từ lúc ly thân nhau cho đến nay mỗi người đều có cuộc sống độc lập, không ai quan tâm đến ai, Tòa án tổ chức hòa giải nhiều lần, nhưng anh anh Dương Công N không đến, anh Dương Công N có ý thức bỏ mặc hôn nhân giữa anh và chị Bùi Thị T. Điều đó, chứng tỏ hôn nhân giữa chị Bùi Thị T và anh Dương Công N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Bùi Thị T yêu cầu ly hôn với anh Dương Công N là có căn cứ, phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Có 01 con chung tên Dương Công T, sinh ngày 18/02/2001. Hiện con chung đã thành niên và có khả năng lao động nên chị không có yêu cầu hay ý kiến gì, nên không xét đến.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.

Về nợ chung: Chị Bùi Thị T khai không có nên không xét đến.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chi Bùi Thị T phải chịu án phí là 300.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ các Điều 227, 228, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị Bùi Thị T đối với anh Dương Công N. Chị Bùi Thị T được ly hôn anh Dương Công N.

2. Về con chung: Có 01 con chung tên Dương Công T, sinh ngày 18/02/2001. Hiện con chung đã thành niên và có khả năng lao động nên không xét đến

3. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.

4. Về nợ chung: Chị Bùi Thị T khai không có nên không xét đến.

5. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Bùi Thị T phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Bùi Thị T đã nộp theo biên lai thu số 0006362 ngày 30 tháng 3 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Vậy án phí chị Bùi Thị T đã nộp đủ.

Chị Bùi Thị T, anh Dương Công N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ.

Cỡ chữ