vanban.org

Bản án 64/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Tuyên án 20/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đình B phạm tội Tàng Trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự - Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƢNG
TỈNH THÁI BÌNH
Bản án số: 64/2020/HSST
Ngày: 20/8/2020

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƢNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Tiến Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Đình Cự .

2. Bà Nguyễn Thị Vĩnh.

Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thuận Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông

Hưng

Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Yến -

Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 8 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh

Thái Bđã xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 64/2020/HSST ngày 31/7/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2020/QĐXXST- HS ngày 5/8/2020 đối với bị cáo:

Trần Đình B, sinh ngày 13/3/1982. Tại: thôn Đ, xã Đ, huyện Đông Hưng, tỉnh

Thái Bình.

Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 8/12;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Đình H (đã chết) và bà: Bùi Thị Ng ; Có vợ: Ngô Thị M và có 02 con, con lớ n sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2013;

Tiền sự: Không;

Tiền án: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/5/2020 đến ngày 01/6/2020 chuyển tạm giam,

hiện bị can đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đông Hưng.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người làm chứng, Người chứng kiến:

- Ông Phạm Xuân Th, sinh năm 1965

Trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

- Ông Tô Văn B, sinh năm 1970.

Trú tại: Thôn T, xã Đông H, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

(Đều vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Đình B là người sử dụng ma túy, loại hêrôin. Do nghe bạn nghiện (B không

nhớ là ai) nói cứ lên Cầu Cống Trắng, thành phố Thái Bình rẽ vào hẻm nhỏ, gần đó sẽ có người đàn ông khoảng 40 tuổi, cao khoảng 1,6 mét bán túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 7 giờ 30 phút ngày 29/5/2020, Bđi bộ từ nhà ra Quốc lộ 39 thuộc địa phận xã Đông Tân, bắt xe buýt lên khu vực cầu Cống Trắng - thành phố Thái Bình. Khi xuống xe, B đi vào hẻm nhỏ cách cầu khoảng 50 mét bên tay trái theo chiều đi để tìm mua ma túy. Đến nơi B gặp 01 người đàn ông đứng một mình giống như mô tả, B đi lại gần hỏi “Anh có phải bán Hê không? Để cho em 300.000 đồng”, người này đồng ý, Bđưa tiền, người này đưa cho B 01 gói ma túy được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, Bcầm bỏ vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi quay ra bắt xe buýt về xã Đông H, mục đích mang gói ma túy vào nghĩa trang xã Đông H để sử dụng nhưng vừa xuống xe thì B bị Công an huyện Đông Hưng phát hiện, bắt quả tang. Công an huyện Đông Hưng đã mời người chứng kiến, tiến hành khám xét người Bình, thu tại túi quần bên phải 01 gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, kích thước (11 x 18) cm, bên trong có chất bột màu trắng dạng cục, B khai nhận đó là Heroin mua về để sử dụng. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu tại Ủy ban nhân dân xã Đông H. Sau đó đưa B đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hưng để giải quyết.

Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở

của Trần Đình B tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình không quản lý thu giữ gì.

Tại bản kết luận giám định số 180/KLGĐ-PC09 ngày 30/5/2020 của Phòng kỹ

thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật thu của B gửi giám định là ma túy, loại heroine có khối lượng là 0,1525 gam.

Tại bản cáo trạng số 66/CT-VKSĐH ngày 30/7/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố bị cáo: Trần Đình B - Về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều của 249 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên trình bày bản luận tội:

Tại phiên tòa sơ thẩm không có tình tiết nào mới, do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố.

Đề nghị tuyên bố bị cáo Trần Đình B - Phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

+ Về tình tiết giảm nhẹ:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai bá o hà nh vi phạ m tô;̣ i . Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

+ Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào.

Đề nghị áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Đểm s Khoản 1

Điều 51của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Đình B từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù

-Về hì nh phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo mua ma tuý về sử dụng, bị cáo là người lao độ ng tự do, thu nhậ p thấ p, không ổ n đị nh. Do đó, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

+Về vật chứng và tài sản thu giữ:

Heroine là vật phẩm cấm lưu hành. Đề nghị: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố

tụng hình sự của Bộ luật hình sự. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine còn lại sau giám định

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[I[ Về tố tụ ng:

Trong quá trì nh điề u tra, truy tố cá c Điề u tra viên, Kiể m sá t viên đã tiế n hà nh thu thậ p cá c tà i liệ u, chứ ng cứ theo đú ng cá c quy đị nh của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có khiế u na,̣ itố cá o. Do đó cá c tà i liệ u, chứ ng cứ trong hồ sơ vụ á n là hợ p pha. ́ p

[II] Về nộ i dung:

[1] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Đình B đã khai nhận:

Do nghiện ma túy nên khoảng 7 giờ 30 phút ngày 29/5/2020,Trần Đình B lên Cầu Cống Trắng, thành phố Thái Bgặp người đàn ông khoảng 40 tuổi, cao khoảng 1,6 mét, Bđi lại gần hỏi “Anh có phải bán Hê không? Để cho em 300.000 đồng”, người này đồng ý, B đưa tiền, người này đưa cho B 01 gói ma túy được gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, B cầm bỏ vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi quay ra bắt xe buýt về xã Đông H, mục đích mang gói ma túy vào nghĩa trang xã Đông H để sử dụng nhưng vừa xuống xe thì B bị Công an huyện Đông Hưng phát hiện, bắt quả tang.

Lời khai của bị cáo Trần Đình B phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang do Công an huyện Đông Hưng lập hồi 08 giờ 40 ngày 29/5/2020 tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã Đông H cùng với lời khai của những người chứng kiến và bản kết luận giám định, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Đình B đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích

mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc

XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05

năm đến 10 năm:

…

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10

năm đến 15 năm:

…

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15

năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến

500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Hành vi của bị cáo Trần Đình B là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyề n độ c quyề n quả n lí về ma tuý củ a nhà nươ. ́ c

[2] Xét tính chất và mức độ của hành vi phạm tội:

Với mức độ tàng trữ 0,1525gam ma tuý la ̀ Heroine thì hành vi phạm tội của bị cáo Trần Đình B thuộc trường hợp nghiêm trọ ng.

[3]+Tình tiết tăng nặng: Bị cáo B không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào.

[4]+Tình tiết giảm nhẹ:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thànhkhẩ n khai bá o hà nh vi phạ m tô ̣ i và tỏ ra ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo Trần Đình B đượ c hưở ng tì nh tiế t giả m nhe quỵ đị nh tạ i điể m s Khoản1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự .

-Về hì nh phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo mua ma tuý về sử dụng, bị cáo là người lao độ ng tự do, thu nhậ p thấ p, không ổ n đị nh. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

Heroine là vật phẩm cấm lưu hành. Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình

sự . Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Heroine còn lại sau giám định.

[6] Về án phí:

Bị cáo Trần Đình B phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Trần Đình B có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp

luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh:

Tuyên bố : Bị cáo Trần Đình B - Phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

[2] Về áp dụng luật và hình phạt:

- Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Đểm s Khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự.

+Xử phạt bị cáo Trần Đình B 01 (một) năm 03 (ba )tháng tù. Thời hạn tù tính từ

ngày 29/5/2020.

[3] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:

- Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự

- Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Heroine có khối lượng 0,1111 gam còn lại sau giám

định, được đựng trong phong bì số 180/KLGĐ.

[4] Về án phí:

- Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban

thường vụ quốc hội, quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí.

Bị cáo Trần Đình B phải chịu 200.000đ tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày thời hạn kháng

cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Cỡ chữ