vanban.org

Bản án 64/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 06/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
B n án số: 64/2020/HS-ST
Ngày: 06 - 3 - 2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Ngọc Kiệt.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Huỳnh Ngọc ư ng;

Bà Nguyễn Kim Hoa.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng T n, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dư ng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Tr n Đ c Thoại - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dư ng, xét xử s thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2020/QĐXX T-HS ngày 07 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Huỳnh Thị Thanh T, sinh năm 1977 tại Thành phố H Ch Minh; n i đăng ký hộ khẩu thường trú: 313/12 đường 3, phường 1, Quận 1, Thành phố H Ch Minh; tạm trú: H24, đường số 7, KDC T, p M, xã M H, huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: N ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh H c L, sinh năm 1957 và bà Tr n Thị Thái T, sinh năm 1958; bị cáo chưa có ch ng, con.

- Tiền án:

1. Ngày 22/02/2001 bị T a án nhân dân Quận 1, Thành phố H Ch Minh xử phạt 30 tháng t về tội Tàng tr trái phép ch t ma túy theo B n án số 62/H T. Bị cáo ch p hành xong hình phạt ngày 24/02/2003.

2. Ngày 20/5/2011 bị T a Phúc thẩm T a án nhân dân tối cao tại Thành phố H Ch Minh xử phạt 13 năm t về tội Giết người theo B n án số 306/2011/H PT. Bị cáo ch p hành xong hình phạt ngày 18/9/2018.

- Tiền sự: Ngày 20/6/2005 bị Ch tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H Ch Minh đưa đi ch a trị cai nghiện tại Trường Giáo dục Đào tạo và Gi i quyết việc làm số 6 theo Quyết định số 2635/QD-UB với thời hạn 24 tháng. Ngày 28/4/2006 b trốn.

- Về nhân thân: Ngày 23/7/2019 Công an Thành phố H Ch Minh quyết định khởi tố bị can đối với Huỳnh Thị Thanh T về hành vi Mua bán trái phép ch t ma túy theo Quyết định số 983-50.

Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Trại tạm giam Ch H a. V ng m t, có đ n yêu c u xét xử v ng m t.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Hà Duy K, sinh năm 1995; n i cư trú: p M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, v ng m t.

2. Bà Huỳnh Thị Nguyên N, sinh năm 1977; n i cư trú: p , xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, v ng m t.

- Người làm ch ng: Ông Lê Minh T, sinh năm 1988, v ng m t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h s vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Huỳnh Thị Thanh T là đối tượng sử dụng trái phép ch t ma túy t năm 2000. Kho ng 23 giờ 30 phút ngày 09/6/2019 Đội c nh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã Thuận An kết hợp với Công an phường An Phú tu n tra kiểm soát an ninh trật tự trên địa bàn phường An Phú. Khi lực lượng Công an tu n tra đến khu vực đường D20, thuộc khu dân cư Việt – ing, phường An Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dư ng phát hiện Huỳnh Thị Thanh T có biểu hiện nghi v n nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, T l y t bên trong túi áo khoác màu đen bên trái đang m c trên người 01 gói ny long miệng kéo d nh bên trong có ch a ch t tinh thể màu tr ng, đ ng thời T khai nhận đó là ma túy nên mời về trụ sở làm việc. Quá trình điều tra khai nhận: Ngày 08/6/2019 Huỳnh Thị Thanh T có mua 700.000 đ ng ma túy đá c a một người đàn ông không r nhân thân, lai lịch tại khu vực thuộc xã M, huyện Đ, tỉnh Long An để sử dụng. Đến kho ng 15 giờ c ng ngày, Huỳnh Thị Thanh T thuê ông Lê Minh T điều khiển xe ô tô biển số 62A-131.03 chở t xã M, huyện Đ, tỉnh Long An lên thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dư ng để tìm bạn. Khi đi đến khu vực đường D20, thuộc khu dân cư Việt – Sing, phường An Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dư ng thì ông T khát nước nên d ng xe lại và qua đường mua nước, c n T xuống xe đ ng bên cạnh xe ô tô biển số 62A-131.03 thì bị công an kiểm tra phát hiện.

Vật ch ng thu gi g m 01 túi nylon miệng kéo d nh bên trong có ch a tinh thể màu tr ng và 01 xe ôtô biển số 62A-131-03.

Theo B n kết luận giám định số 456/MT-PC09 ngày 17/6/2019 c a Ph ng K thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dư ng xác định: Mẫu ch t màu tr ng gửi giám định là ma tuý, có trọng lượng 1,1807 gam, loại Ketamin.

Tại b n Cáo trạng số 40/CT-VKS-TA ngày 16/01/2020 c a Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đã truy tố bị cáo Huỳnh Thị Thanh T về tội “Tàng tr trái phép ch t ma túy” theo điểm o kho n 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn gi nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá t nh ch t m c độ, hậu qu hành vi phạm tội c a bị cáo gây ra và các tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đ ng xét xử tuyên phạt bị cáo Huỳnh Thị Thanh T t 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật ch ng: Đối với 0,7335 gam ma túy, loại Ketamin – mẫu vật hoàn lại sau giám định đề nghị Hội đ ng xét xử tịch thu tiêu h y.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Minh T xác định chiếc xe ô tô biển số 62A-131.03 là do ông Thành thuê c a ông Hà Duy K – đại diện c a hộ kinh doanh B o Khang để vận chuyển khách. Ngày 08/6/2019, bị cáo T có thuê ông chở t địa phận xã M, huyện Đ, tỉnh Long An lên Thành phố H Ch Minh và thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dư ng. Ông T không biết việc bị cáo Huỳnh Thị Thanh T mang theo ma túy trong người.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Nguyên N xác định chiếc xe ô tô biển số 62A-131.03 do bà N đ ng tên gi y ch ng nhận đăng ký xe. Bà N cho ông Hà Duy K – đại diện c a hộ kinh doanh B o Khang thuê để kinh doanh dịch vụ taxi. Việc ông Lê Minh T điều khiển xe ô tô nêu trên chở bị cáo T có mang ma túy trong người bà N không biết. C quan c nh sát điều tra đã tr lại chiếc xe ô tô trên cho bà N nên không có ý kiến, yêu c u gì khác.

Người đại diện hợp pháp c a người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hà Duy K – đại diện c a hộ kinh doanh B o Khang thống nh t với lời khai c a ông Lê Minh T và bà Huỳnh Thị Nguyên N. Chiếc xe ô tô biển số 62A-131.03 thuộc quyền sở h u hợp pháp c a bà N nên C quan c nh sát điều tra đã tr lại chiếc xe ô tô trên cho bà N nên không có ý kiến, yêu c u gì khác.

Trong quá trình điều tra và đ n yêu c u xét xử v ng m t, bị cáo thống nh t với nội dung truy tố theo Cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An và xin Hội đ ng xét xử gi m nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong h s vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:

Trong các giai đoạn tố tụng t khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng c a Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định c a Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng c a c quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng c a c quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Quá trình điều tra, bị cáo Huỳnh Thị Thanh T thành khẩn khai báo, thống nh t với tội danh, điều kho n bị truy tố. au khi nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử c a Toà án bị cáo có đ n yêu c u xét xử v ng m t, việc bị cáo xin xét xử v ng m t là ph hợp với quy định tại Điều 290 c a Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đ ng xét xử ch p nhận.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Huỳnh Thị Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình đúng như nội dung Cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dư ng đã truy tố bị cáo trước T a. Lời nhận tội c a bị cáo ph hợp với các ch ng c , tài liệu có trong h s vụ án, lời khai c a người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm ch ng, Hội đ ng xét xử xét th y có đ c sở kết luận:

Kho ng 23 giờ 30 phút ngày 09/6/2019, Đội C nh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thị xã Thuận An phối hợp với Công an phường An Phú, thị xã Thuận An tiến hành tu n tra trên địa bàn phường An Phú. Khi tu n tra đến đường D20, thuộc khu dân cư Việt – ing, phường An Phú, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dư ng phát hiện Huỳnh Thị Thanh T có biểu hiện nghi v n nên kiểm tra và phát hiện bên trong túi áo khoác màu đen bên trái đang m c trên người có 01 gói ny long miệng kéo d nh bên trong có ch a ch t tinh thể màu tr ng.

Theo B n kết luận giám định xác định 01 gói ny long miệng kéo d nh bên trong có ch a ch t tinh thể màu tr ng thu gi trong vụ án là ma tuý, có trọng lượng 1,1807 gam, loại Ketamin. Bị cáo khai nhận c t gi u số lượng ma túy nêu trên là nhằm mục đ ch tàng tr để sử dụng cho b n thân; đ ng thời bị cáo Huỳnh Thị Thanh T đã bị T a án nhân dân Quận 1, Thành phố H Ch Minh xử phạt 30 tháng t về tội Tàng tr trái phép ch t ma túy vào năm 2001 và năm 2011 bị T a Phúc thẩm T a án nhân dân tối cao tại Thành phố H Ch Minh xử phạt 13 năm t về tội Giết người nhưng chưa được xóa án t ch lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại Điều 53 Bộ luật Hình sự – đây là tình tiết định khung được quy định tại điểm o Kho n 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, hành vi c a bị cáo Huỳnh Thị Thanh T đã đ yếu tố c u thành tội Tàng tr trái phép ch t ma túy theo quy định tại điểm o kho n 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo Huỳnh Thị Thanh T với tội danh, điều, kho n và điểm trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi c a bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến ch nh sách độc quyền qu n lý c a Nhà nước đối với các ch t ma tuý, gây tác hại x u đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Ma túy là loại ch t gây nghiện nguy hiểm, người sử dụng ma túy sẽ bị nh hưởng nghiêm trọng đến s c kh e, t nh mạng đ ng thời là nguyên nhân phát sinh nh ng tội phạm khác, tạo nên gánh n ng cho xã hội, gây tha hóa biến ch t một bộ phận nhân dân. Về nhận th c, bị cáo biết r hành vi tàng tr trái phép ch t ma tuý bị pháp luật nghiêm c m nhưng để có ma tuý cho b n thân sử dụng đã cố ý thực hiện tội phạm; đ ng thời, bị cáo có nhân thân x u. Do đó, c n xử phạt bị cáo m c án tư ng x ng với t nh ch t, m c độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra kh i đời sống xã hội một thời gian để bị cáo suy nghĩ lại hành vi phạm tội c a mình, giáo dục riêng bị cáo và ph ng ng a chung cho xã hội.

. Về tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng n ng.

. Về tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối c i theo quy định tại điểm s kho n 1 Điều 51 c a Bộ luật Hình sự.

Lời đề nghị c a đại diện Viện kiểm sát tại phiên t a có căn c , đúng pháp luật nên được ch p nhận.

Về xử lý vật ch ng: Đối với 01 bì thư niêm phong c a Ph ng K thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dư ng ghi số vụ 456/PC09 – mẫu vật hoàn lại sau giám định, bên trong ch a ch t ma tuý nên tịch thu tiêu huỷ.

Đối với chiếc xe ô tô mang biển số 62A-131.03 thu gi trong vụ án, quá trình điều tra xác định thuộc sở h u hợp pháp c a bà Huỳnh Thị Nguyên N và không ph i công cụ, phư ng tiện liên quan đến hành vi phạm tội nên C quan c nh sát điều tra Công an thị xã Thuận An tr lại cho bà N là ph hợp.

Đối với hành vi điều khiển xe ô tô mang biển số 62A-131.03 chở Huỳnh Thị Thanh T c a ông Lê Minh T, quá trình điều tra xác định ông T không biết việc bị cáo T mang ma túy trong người nên C quan c nh sát điều tra Công an thị xã Thuận An không xử lý đối với ông T là đúng quy định.

Đối với đối tượng bán ma tuý cho Huỳnh Thị Thanh T, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo ph i chịu án ph hình sự s thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c vào:

- Điểm o kho n 2 Điều 249; điểm s kho n 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

- Điều 106, 290 c a Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự;

- Điều 136 c a Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án ph , lệ ph T a án;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Thanh T phạm tội “Tàng tr trái phép ch t ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Thanh T 05 năm năm 06 sáu tháng tù, thời hạn tù t nh t ngày b t bị cáo để thi hành án.

2. Về xử lý vật ch ng: Tịch thu tiêu huỷ 01 bì thư niêm phong c a Ph ng K thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dư ng ghi số vụ 456/PC09 – mẫu vật hoàn lại sau giám định.

Theo biên b n giao nhận vật ch ng, tài s n ngày 09/01/2020 gi a Công an thị xã Thuận An với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dư ng .

3. Về án phí: Bị cáo Huỳnh Thị Thanh T ph i chịu 200.000 đ ng tiền án phí hình sự s thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan v ng m t có quyền kháng cáo b n án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nhận được b n án ho c b n án được niêm yết./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ