- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thanh T đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2020/HS-ST Ngày 29-12-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Lan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Ba và ông Tạ Văn Đức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2020/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:64/2020/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1983 tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M(đã chết); và bà Nguyễn Thị T; có chồng là Nguyễn Việt Dũng, đã ly hôn; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị bắt tạm giữ từ ngày 06/9/2020 đến ngày 11/9/2020 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú hiện tại ngoại tại địa phương, “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17h30 phút ngày 06/9/2020, Nguyễn Thị Thanh T đang ở nhà thì có nam thanh niên tự khai là Nguyễn Văn Niên, đến hỏi mua số lô, số đề. T đồng ý bán cho Niên các số lô 89, 70, 30 và 92 mỗi số bằng 40 điểm, số lô 98 bằng 20 điểm, số đề 99 bằng 50.000 đồng hết tổng số tiền 4.100.000 đồng, Niên đã trả đủ tiền cho T. Niên ghi các số lô, số đề vừa mua ra 01 mảnh giấy gọi là “cáp đề” đưa cho T giữ, rồi dùng điện thoại của mình chụp ảnh cáp đề trên để đối chiếu khi mở thưởng. Sau đó, T cũng dùng điện thoại di động của mình chụp ảnh lại cáp đề để tiện theo dõi trả thưởng. Tiếp đó, có 02 thanh niên tự khai nhận là Nguyễn Văn Huy và Hoàng Minh Thành đến hỏi mua số lô, số đề của T, T đồng ý bán. Trong đó Huy mua của T các số lô 46, 13 mỗi số lô bằng 20 điểm, số lô xiên (52,45) bằng 50.000 đồng. Tổng số tiền Huy phải thanh toán cho T là 950.000đồng nhưng do là khách mới chơi nên được T khuyến mại số tiền 50.000 đồng và Huy chỉ phải trả số tiền còn lại là 900.000 đồng. Thành mua của T các số lô 38, 43 mỗi số bằng 10 điểm hết tổng số tiền là 450.000 đồng. Huy ghi các số lô của Huy và Thành vào 01 mảnh giấy rồi cùng T sử dụng điện thoại di động chụp ảnh lại để so sánh, đối chiếu và trả thưởng. Khi Huy và Thành vừa thanh toán tiền mua các số lô trên cho T thì đúng lúc này lực lượng Công an huyện Yên Lạc phát hiện, bắt quả tang và thu giữ các tang vật gồm: Thu của Nguyễn Thị Thanh T số tiền 5.450.000 đồng là tiền bán số lô, số đề mà có; 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6 màu vàng đã cũ; 02 tờ giấy gọi là cáp đề ghi các số lô, số đề có chữ ký xác nhận của các đối tượng mua bán lô, đề; Thu của Nguyễn Văn Niên 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J3, màu xám bạc không có vỏ ốp lưng; Thu của Nguyễn Văn Huy 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6, màu bạc, đã cũ.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Thanh T khai nhận do muốn thu lời bất chính nên T đã thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền với người khác bằng hình thức ghi và bán số lô, số đề, mỗi lần mua bán số lô, số đề T đưa cho khách một mảnh giấy để khách tự ghi các số lô, số đề sau đó T dùng điện thoại chụp ảnh lại để làm căn cứ so sánh trả thưởng, sau mỗi ngày T đều xóa ảnh. Quá trình bán số lô, số đề T không nhớ bán cho ai, bao nhiêu tiền, cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T nhưng không thu giữ được vật chứng liên quan nên không có căn cứ xử lý hành vi đánh bạc của T vào những ngày trước đó. Về hình thức ghi, bán số lô số đề và tỷ lệ được thua, T khai nhận như sau: Trước 18 giờ hàng ngày, nếu có khách đến mua thì T bán với giá 22.500 đồng một điểm lô loại 02 số. Còn số tiền mua số đề, mua lô xiên hai, xiên ba thì khách tự chọn. Sau khi kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày xong thì T cùng khách so sánh số lô, số đề mà khách đã mua để tính thắng thua với nhau. Nếu khách mua số đề loại 02 số mà trùng với 02 số cuối của giải Đặc biệt thì khách thắng và T trả cho số tiền gấp 70 lần số tiền khách đã mua số đề. Nếu khách mua số lô loại 02 số mà trùng với 02 số cuối của bất kì giải thưởng nào thì khách thắng và được T trả tiền theo tỉ lệ 80.000 đồng cho một điểm lô. Trường hợp số lô khách mua trùng với 02 số cuối của nhiều giải thưởng thì số tiền khách thắng và được hưởng tương ứng nhân lên theo số lần trùng giải thưởng nhưng không được quá 03 lần (gọi là kép 3). Nếu khách mua lô xiên hai tức là mua 02 số lô bất kỳ khác nhau, mà cả hai số lô này đều trùng với 02 số cuối của bất kỳ giải thưởng nào thì khách thắng và được T trả số tiền gấp 10 lần số tiền mà khách đã mua. Nếu khách mua lô xiên ba tức là mua 03 số lô bất kỳ khách nhau, mà cả 03 số lô đều trùng với 02 số cuối của giải thưởng bất kỳ thì khách thắng và được T trả số tiền gấp 40 lần số tiền mà khách đã mua. Ngược lại, với tất cả các trường hợp trên, nếu không trúng thì khách thua và T được số tiền khách đã mua trước đó. Bị cáo bán số lô, số đề và tự tính thắng thua với khách mà không chuyển bảng lô, bảng đề cho ai. Ngày 06/9/2020, khi bị bắt quả tang chưa đến giờ mở thưởng kết quả xổ số cùng ngày nên chưa xác định được các số lô, số đề bị can bán có trúng thưởng hay không.
Tại Cáo trạng số 62 /CT - VKS ngày 23 tháng 11 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố Nguyễn Thị Thanh T đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T từ 08 tháng đến 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 04 tháng đến 01năm 08 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về vật chứng của vụ án: 02 tờ cáp đề, 01 quyển vở mặt ngoài bìa có ghi chữ “Campus” chuyển theo hồ sơ vụ án phục vụ việc xét xử; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 5.450.000 đồng, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng, 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J3 màu xám bạc không có vỏ ốp lưng, 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6 màu bạc; trả lại T 01 điện thoại di động Iphone7 màu hồng đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; tịch thu tiêu hủy 01 bút bi màu xanh đã qua sử dụng.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thanh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y. Bị cáo khai nhận:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 06 tháng 9 năm 2020, tại nhà ở của T thuộc thôn Giã Bàng 2, xã Tề Lỗ huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc; T đã bán số lô, số đề cho Nguyễn Văn Niên gồm các số lô 89, 70, 30 và 92 mỗi số bằng 40 điểm, số lô 98 bằng 20 điểm, số đề 99 bằng 50.000đồng hết tổng số tiền 4.100.000 đồng; Nguyễn Văn Huy các số lô 46, 13 mỗi số lô bằng 20 điểm, số lô xiên 52,45 bằng 50.000 đồng, tổng số tiền Huy phải thanh toán là 950.000đồng nhưng Huy là khách mới chơi nên T khuyến mại cho Huy 50.000đồng, số tiền còn lại Huy phải trả là 900.000đồng và Hoàng Minh Thành các số lô 38, 43 mỗi số bằng 10 điểm hết tổng số tiền là 450.000 đồng. Khi T đang bán cho Huy và Thành thì Công an huyện Yên Lạc kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền T sử dụng vào việc đánh bạc là 5.500.000 đồng (Năm triệu năm trăm nghìn đồng).
[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận Nguyễn Thị Thanh T đã phạm vào tội đánh bạc; tội danh được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Xét tính chất vụ án tuy ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã gây mất trị an tại địa phương, xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội. Từ tội đánh bạc có thể nảy sinh ra nhiều tội phạm khác như trộm cắp tài sản, cưỡng đoạt tài sản, gây rối trật tự công cộng…vì vậy, cần phải xử lý bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo được hưởng ba tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải. Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có chỗ ở ổn định và nơi cư trú rõ ràng, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ và xét về điều kiện hoàn cảnh thực tế của bị cáo thấy rằng: Bị cáo có chồng nhưng đã ly hôn hiện nay một mình đang phải nuôi hai con còn nhỏ, bản thân là lao động duy nhất trong gia đình. Vì vậy, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật với mức án như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cũng như tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội được tự cải tạo, sửa chữa sai lầm để trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[5] Về vật chứng của vụ án: Đối với 02 tờ cáp đề, 01 quyển vở mặt ngoài bìa có ghi chữ “Campus” đưa vào hồ sơ vụ án làm tài liệu chứng cứ nên Tòa không xét. Số tiền 5.450.000 đồng là tiền thu lời bất chính do đánh bạc mà có nên tịch thu sung công; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng; 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J3, màu xám bạc không có vỏ ốp lưng; 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6, màu bạc đều đã cũ là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, bán phát mại sung công; 01 điện thoại di động Iphone7 màu hồng của T không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án, 01 bút bi màu xanh không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như nghị của Viện kiểm sát.
[7] Đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Văn Niên, Nguyễn Văn Huy và Hoàng Minh Thành. Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh không có người nêu trên nên không có đủ cơ để xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Yên Lạc tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ xử lý sau nên Tòa không xét.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử được thực hiện đầy đủ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh T 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Thanh T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.450.000 đồng (Năm triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng), 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng, 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J3 màu xám bạc không có vỏ ốp lưng, 01 chiếc điện thoại di động Iphone 6, màu bạc; trả lại cho Nguyễn Thị Thanh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; tịch thu tiêu hủy 01 bút bi màu xanh. Tất cả vật chứng và số tiền nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc lập ngày 01 tháng 12 năm 2020.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buô ̣c bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Yên Lạc; - CQĐT - CA huyện Yên Lạc; - CQTHAHS- CA huyện Yên Lạc; - Chi cục THADS huyện Yên lạc; - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lan |