- Tranh chấp gì? án hình sự — "VÕ PHÚ Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Phú Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2020/HS-ST Ngày: 16-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hùng Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Tám
2. Ông Nguyễn Văn Cao.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tú – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2020 trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 72/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Võ Phú Q, tên gọi khác: B, sinh năm 1990 tại Long An. ĐKTT: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Phú Quới, sinh năm 1970 và bà Võ Thị Phụng, sinh năm 1972, bản thân có vợ tên Phan Ngọc Hân, có 01 con sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/5/2020 cho đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Lê Việt D, sinh năm 1968
ĐKTT: Tổ 14, Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An (vắng mặt – có đơn xin vắng mặt).
- Người làm chứng:
1. Huỳnh Ngọc V, sinh năm 1979
ĐKTT: Khu phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).
2. Huỳnh Anh V, sinh năm 1985
ĐKTT: Khu phố 1, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 20 giờ 45 phút ngày 15/02/2020, lực lượng Công an huyện Bến Lức đang tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn huyện Bến Lức, khi đến trước nhà số 567, đường N, khu phố A, thị trấn Bthì phát hiện Võ Phú Q đang điều khiển xe mô tô biển số 52L7-7858 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện bên trong túi quần bên phải của Q có 01 gói nylon màu trắng, rãnh khép có kích thước 4cm x 5cm, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn. Qua làm việc Q khai nhận vào trưa ngày 15/02/2020, Q điều khiển xe mô tô đi đến đường T, Quận C, TP. HCM gặp một thanh niên (không rõ họ tên và địa chỉ) mua 01 gói ma tuý với số tiền 500.000đ, sau đó cất vào túi quần phía trước bên phải đang mặc và đi về nhà. Đến 20 giờ 45 phút, Q điều khiển xe mô tô biển số 52L7-7858 đi từ nhà đến chỗ game bắn cá H ở thị trấn B thì bị kiểm tra phát hiện, thu giữ.
Tại kết luận giám định số: 114/2020/KLGĐ ngày 20/02/2020 của Phòng KTHS Công an tỉnh Long An, kết luận: 01 gói nylon kín, có rãnh khép, kích thước khoảng 4cm x 5cm, bên trong có chứa hạt tinh thể màu trắng, dạng rắn gửi đến giám định là ma tuý, khối lượng 1,2000 gam, loại Methamphetamine.
Tại cáo trạng số 73/CT-VKSBL ngày 18-6-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố Võ Phú Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Phú Q hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội bị cáo thực hiện đúng như nội dung cáo trạng đã nêu. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố bị cáo Võ Phú Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức trong phần luận tội đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, có con còn nhỏ nên xem xét giảm cho bị cáo một phần về hình phạt theo quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Võ Phú Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Võ Phú Q từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với người thanh niên (không rõ họ tên và địa chỉ) là người bán ma túy cho Q, hiện CQĐT Công an huyện Bến Lức tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.
Đối với Lê Việt D là chủ xe mô tô biển số 52L7-7858 do Q lấy xe sử dụng vào mục đích phạm tội ông D không biết, nên CQĐT Công an huyện Bến Lức không xử lý là phù hợp.
Về vật chứng:
- Mẫu tinh thể màu trắng còn lại sau giám định gồm 01 gói niêm phong số 114/20 ngày 20/02/2020 có chữ ký của Phạm Thị Thanh Tuyền và Lê Minh Trí, có trọng lượng 0,9337 gram đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe mô tô biển số 52L7-7858, qua xác minh của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Long An ngày 23/3/2020 thì xe trên không có giấy tờ hợp lệ, đề nghị giao Công an huyện Bến Lức xử lý theo quy định của pháp luật.
(Vật chứng nêu trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ).
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bến Lức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu, bản kết luận giám định chất ma túy và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Võ Phú Q là đối tượng nghiện ma túy. Vào ngày 15/02/2020, Võ Phú Q điều khiển xe mô tô biển số 52L7-7858 đến Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh mua của một thanh niên (không rõ họ tên và địa chỉ) 01 gói ma tuý với số tiền 500.000đ, bị cáo bỏ gói ma túy vào túi quần mang về nhà mục đích để sử dụng. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày bị cáo điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng, khi đến nhà số 567, đường N, khu phố A, thị trấn Bthì bị lực lượng Công an huyện Bến Lức tuần tra kiểm tra và phát hiện trong túi quần trước bên phải của Q có 01 gói ma tuý có khối lượng 1,200 gam, loại Methamphetamine. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Võ Phú Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, do đó cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và đúng pháp luật, không oan.
Hành vi trái pháp luật của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo cũng thừa biết ma tuý là chất độc hại, gây nghiện làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và thể chất con người nên Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo mua ma túy về cất giấu trái phép, mục đích để sử dụng, chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, xâm phạm đến sức khoẻ và sự phát triển nòi giống của dân tộc, là tác nhân gây ra bệnh HIV, gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Do đó cần áp dụng hình phạt buộc cách ly xã hội đối với bị cáo trong thời gian nhất định để giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hiện hoàn cảnh gia đình bị cáo gặp khó khăn, có con còn nhỏ, nên xem xét giảm cho bị cáo một phần về hình phạt theo quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đối với người thanh niên (không rõ họ tên và địa chỉ) là người bán ma túy cho Q, hiện CQĐT Công an huyện Bến Lức tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.
Đối với Lê Việt D là chủ xe mô tô biển số 52L7-7858 do Q lấy xe sử dụng vào mục đích phạm tội ông D không biết, nên CQĐT Công an huyện Bến Lức không xử lý là phù hợp.
Về vật chứng:
- Mẫu tinh thể màu trắng còn lại sau giám định gồm 01 gói niêm phong số 114/20 ngày 20/02/2020 có chữ ký của Phạm Thị Thanh Tuyền và Lê Minh Trí, có trọng lượng 0,9337 gram nên áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy.
- 01 xe mô tô biển số 52L7-7858, Lê Việt D khai mua tại cửa hàng xe cũ giấy đăng ký do Huỳnh Thị Kim Phượng đứng tên nhưng không có giấy tờ chứng minh, hiện không tìm được chị Phượng và qua xác minh của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Long An ngày 23/3/2020 thì xe trên không có giấy tờ hợp lệ, nên giao Công an huyện Bến Lức xử lý theo quy định của pháp luật.
(Vật chứng nêu trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ).
Về án phí: Bị cáo Võ Phú Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Võ Phú Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Võ Phú Q 01 (một) năm tù, thời gian tù tính từ ngày 15-5-2020.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Võ Phú Q trong thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày 16-7-2020 để đảm bảo kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 114/20 ngày 20/02/2020 có chữ ký của Phạm Thị Thanh Tuyền và Lê Minh Trí, có trọng lượng 0,9337 gram.
- 01 xe mô tô biển số 52L7-7858, qua xác minh của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Long An ngày 23/3/2020 thì xe trên không có giấy tờ hợp lệ, nên giao Công an huyện Bến Lức xử lý theo quy định của pháp luật.
(Vật chứng nêu trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Võ Phú Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
\ Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- Toà án nhân dân tỉnh Long An;
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- Sở tư pháp tỉnh Long An;
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức;
- Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Bến Lức;
- Nhà tạm giữ Công an huyện Bến Lức;
- Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức;
- Người tham gia tố tụng;
Lê Hùng Cường
- Lưu hồ sơ, lưu án văn.
Hội thẩm nhân dân
Chủ tọa phiên tòa Phạm Văn Tám Nguyễn Văn Cao
Lê Hùng Cường
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Long An; - Sở tư pháp tỉnh Long An; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức; - Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Bến Lức; - Nhà tạm giữ Công an huyện Bến Lức; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Hùng Cường |