vanban.org

Bản án 64/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị G đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Văn V (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 20/2009 03 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh T vào ngày 09/3/2009).

Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Nguyễn Thị Phƣơng L, sinh ngày 15/10/2009 và Nguyễn Phƣơng T, sinh ngày 04/11/2013 cho chị Nguyễn Thị G trực tiếp nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị G về việc không yêu cầu anh Nguyễn Văn V thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Sau khi ly … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Văn V"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị G đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Văn V (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 20/2009 03 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh T vào ngày 09/3/2009).
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 64/2020/HNGĐ – ST
Ngày: 31/7/2020
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Văn Nhung;

2. Bà Nguyễn Ngọc Diệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thƣơng – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 210/2020/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 71/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2020/QĐST – HNGĐ ngày 13/7/2020, giữa các đƣơng sự.

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1983; thƣờng trú: Số nhà 12/24 đƣờng T, khu phố Đ, phƣờng D, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn xin giải quyết vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1979; thƣờng trú: Số nhà 12/24 đƣờng T, khu phố Đ, phƣờng D, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/3/2020 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị G trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Văn V sau thời gian tìm hiểu gần 01 năm thì tự nguyện chung sống từ năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh T vào ngày 09/3/2009 (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 20/2009). Sau khi kết hôn vợ chồng thuê nhà trọ ở một thời gian đến khoảng năm 20 11 thì mua nhà tại địa chỉ 12/24 đƣờng T, khu phố Đ, phƣờng D, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng sống cho đến nay. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh từ việc anh V sống không chung thủy, ham mê cờ bạc, không quan tâm tới gia đình, vợ con. Thời gian anh V còn làm công nhân thì hàng tháng đều đƣa lƣơng cho chị G giữ để chi tiêu trong gia đình. Năm 2016, anh V nghỉ việc, ra làm ăn riêng thì thu nhập của ai ngƣời đó giữ, mọi chi phí sinh hoạt trong gia đình hầu nhƣ chị G tự lo liệu, thi thoảng anh V mới phụ đóng tiền học cho con. Chị G cũng đã nhiều lần tạo điều kiện cho anh V sửa đổi nhƣng anh V vẫn chứng nào tật đó, vì vậy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Tháng 8 năm 2019, anh V dọn ra ngoài sống riêng, thi thoảng có về thăm con còn vợ chồng đã ly thân cho đến nay. Chị G xác định không còn tình cảm với anh V nên yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Phƣơng L, sinh ngày 15/10/2009 và Nguyễn Phƣơng T, sinh ngày 04/11/2013. Hiện nay cháu L và cháu T đang sống chung với chị G nên khi ly hôn chị G yêu cầu đƣợc tiếp tục trực tiếp nuôi dƣỡng con chung, không yêu cầu anh Nguyễn Văn V thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị G không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn V: Quá trình tố tụng, anh V đã đƣợc Tòa án thông báo thụ lý, triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 21/5/2020; tham gia phiên tòa vào các ngày 13/7/2020 và ngày 31/7/2020, tuy nhiên anh V vắng mặt không có lý do, không cung cấp chứng cứ và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị G.

- Tại biên bản xác minh của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An tại Hội liên hiệp phụ nữ phƣờng D, thành phố Dĩ An thể hiện: Quá trình anh Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị G sinh sống tại địa phƣơng chính quyền không nhận đƣợc đơn thƣ hay trình báo gì về việc anh, chị có mâu thuẫn trong gia đình nên chính quyền địa phƣơng không biết đƣợc mâu thuẫn giữa vợ chồng anh, chị là gì cũng nhƣ công việc, thu nhập hay con cái của anh V, chị G.

- Kết quả xác minh tại Công an phƣờng D thể hiện: Đƣơng sự Nguyễn Văn V, sinh năm 1979 có đăng ký hộ khẩu thƣờng trú và sinh sống tại địa chỉ: 12/24 đƣờng T, khu phố Đ, phƣờng D, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự, bị đơn đã đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng vẫn vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đƣơng sự là đúng quy định.

Về việc giải quyết vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân, chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Văn V có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình tố tụng, anh V không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, không cung cấp lời khai và chứng cứ về quan hệ hôn nhân nên có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng chị G và anh V là trầm trọng, chị G có yêu cầu ly hôn là có căn cứ. Về con chung, chị G có yêu cầu đƣợc tiếp tục trực tiếp nuôi dƣỡng con chung, không yêu cầu anh V thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Hiện nay con chung đang chung sống với chị G, tại bản tự khai cháu Nguyễn Thị Phƣơng L cũng có nguyện vọng đƣợc ở chung với mẹ. Anh V vắng mặt, không trình bày ý kiến về vấn đề nuôi con nên yêu cầu của chị G về vấn đề nuôi dƣỡng con chung là có căn cứ. Chị G không yêu cầu anh V cấp dƣỡng nuôi con, đây là sự tự nguyện của đƣơng sự, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Về tài sản chung và nợ chung nguyên đơn không tranh chấp, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc xem xét tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Tòa án nhận định:

Về sự vắng mặt của các đƣơng sự: Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Nguyễn Văn V để tham gia phiên tòa vào các ngày 13/7/2020 và ngày 31/7/2020 nhƣng anh V vắng mặt không rõ lý do. Ngày 21/5/2020 nguyên đơn chị Nguyễn Thị G nộp đơn từ chối hòa giải và đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án xét xử vắng mặt chị G, anh V.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Văn V là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh T vào ngày 09/3/2009 (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 20/2009) nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Chị G xác định trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2019 nên không thể tiếp tục chung sống đƣợc với nhau và yêu cầu đƣợc ly hôn. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập anh Nguyễn Văn V đến làm việc nhƣng anh V đều vắng mặt không rõ lý do, không đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Đồng thời, anh V cũng không có văn bản nào thể hiện thiện chí đƣa ra phƣơng pháp hàn gắn mối quan hệ giữa anh và chị G nên có cơ sở xác định cuộc sống hôn nhân của chị G và anh V phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Do đó, chị Nguyễn Thị G yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Văn V là phù hợp với quy định của Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Văn V có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Phƣơng L, sinh ngày 15/10/2009 và Nguyễn Phƣơng T, sinh ngày 04/11/2013. Hiện nay cháu L và cháu T đang sống chung với chị G nên khi ly hôn chị G yêu cầu đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng con chung. Anh V vắng mặt, không có ý kiến gì đối với yêu cầu về nuôi con của chị G đồng thời tại bản tự khai ngày 01/5/2020, cháu Nguyễn Thị Phƣơng L cũng có nguyện vọng đƣợc ở chung với mẹ. Xét cháu L và cháu T còn nhỏ, các cháu là con gái, từ khi anh V dọn ra ngoài sống riêng đến nay các cháu đều đƣợc chị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của phụ nữ và tr em sau khi ly hôn cần giao con chung tên Nguyễn Thị Phƣơng L và Nguyễn Phƣơng T cho chị G trực tiếp nuôi dƣỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dƣỡng nuôi con: Tại đơn khởi kiện ngày 10/3/2020 và lời khai trong quá trình tố tụng, chị Nguyễn Thị G xác định chỉ yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung, không yêu cầu anh Nguyễn Văn V phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con. Xét đây là ý chí tự định đoạt của đƣơng sự nên ghi nhận sự tự nguyện của chị G về việc không yêu cầu anh V thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Nguyễn Thị G không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích nêu trên, Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị G phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điểm a Khoản 5 và Điểm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị G đƣợc ly hôn với anh Nguyễn Văn V (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 20/2009 03 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh T vào ngày 09/3/2009).

2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung tên Nguyễn Thị Phƣơng L, sinh ngày 15/10/2009 và Nguyễn Phƣơng T, sinh ngày 04/11/2013 cho chị Nguyễn Thị G trực tiếp nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị G về việc không yêu cầu anh Nguyễn Văn V thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, chị Nguyễn Thị G và anh Nguyễn Văn V đều có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai đƣợc quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trƣờng hợp anh Nguyễn Văn V lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến việc chị Nguyễn Thị G nuôi con thì chị G có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và mức cấp dƣỡng.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị G phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai số 0040244 ngày 19/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ