- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí H về yêu cầu ông Phạm Văn L và bà Huỳnh Thị C trả số tiền 10.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2020/DS-ST Ngày 31 – 7 – 2020 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Càn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Hà
Ông Châu Trung Trực
-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ánh Hồng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Ngày 31 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 168/2020/TLST-DS ngày 11 tháng 5 năm 2020 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 304/2020/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Chí H, sinh năm 1968; cư trú tại: Ấp T, xã T1, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Thang Thị Thúy H, sinh năm 1977; cư trú tại: Ấp T, xã T1, huyện Đ, tỉnh Cà Mau – Văn bản ủy quyền ngày 20/3/2020 (vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Phạm Văn L, sinh năm 1970 và bà Huỳnh Thị C, sinh năm 1977; cùng cư trú tại: Ấp T2, xã T1, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của ông Nguyễn Chí H thể hiện:
Vào ngày 30/01/2019 ông Phạm Văn L và bà Huỳnh Thị C mượn số tiền 30.000.000 đồng, ông L có làm biên nhận, đến tháng 02/2019 ông L, bà C mượn số tiền 10.000.000 đồng nhưng không có làm biên nhận và đến ngày 10/8/2019 mượn thêm số tiền 10.000.000 đồng, bà C làm biên nhận. Sau đó ông L, bà C không trả lại các khoản tiền đã mượn.
Tại phiên họp công khai chứng cứ ngày 29/6/2020, bà Thang Thị Thúy H xác định: Do số tiền mượn 10.000.000 đồng vào tháng 02/2019 không có biên nhận, ông L, bà C không tham gia việc giải quyết tại Tòa án nên bà H rút lại chưa yêu cầu trả số tiền này và yêu cầu ông L, bà C trả số tiền 40.000.000 đồng đã làm biên nhận.
* Đối với ông Phạm Văn L và bà Huỳnh Thị C: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông L, bà C; các đương sự này không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của ông H và không tham gia hòa giải, xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật: Ông Nguyễn Chí H khởi kiện yêu cầu ông Phạm Văn L và bà Huỳnh Thị C trả lại số tiền vay nên đây là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền của Tòa án theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Thang Thị Thúy H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông L, bà C đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với các đương sự này là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, bà H với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của ông H rút một phần yêu cầu khởi kiện về số tiền mượn 10.000.000 đồng do không có làm biên nhận. Xét thấy, việc bà H rút một phần yêu cầu khởi kiện của ông H là tự nguyện, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ đối với phần yêu cầu mà bà H đã rút, trường hợp có phát sinh tranh chấp sẽ được xem xét, giải quyết bằng vụ án khác.
Theo biên nhận vào ngày 30/01/2019 ông L ký xác nhận mượn số tiền 30.000.000 đồng và bà C ký xác nhận vào ngày 10/8/2019 mượn số tiền 10.000.000 đồng. Tại văn bản thể hiện ý kiến của của ông L, bà C trong vụ án do bà Nguyễn Thị Huệ khởi kiện thể hiện: “Tôi không đồng ý yêu cầu của bà Huệ, bởi bà Huệ không phải là chủ thể khởi kiện đòi tài sản đối với vợ chồng tôi, vợ chồng tôi không có thiếu tiền, vàng gì bà Huệ; cụ thể: Bà Huệ cung cấp cho Tòa án các chứng từ (biên nhận tiền, vàng) giữa tôi (Phạm Văn L) với cháu Cần, giữa tôi với bà Nguyễn Thị Than, giữa tôi với ông Nguyễn Văn Giào, giữa tôi với ông Nguyễn Văn H, giữa tôi với bà Hứa Mỹ Nhiên. Hoàn toàn không có biên nhận nợ tiền nào của bà Huệ”.
Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, ông L, bà C không có ý kiến phản đối với tài liệu, chứng cứ và yêu cầu khởi kiện của ông H nên đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, việc ông H xác định ông L, bà C còn thiếu số tiền 40.000.000 đồng là có căn cứ.
Xét về nghĩa vụ thanh toán: Ông L là người ký nhận số tiền 30.000.000 đồng và bà C ký nhận số tiền 10.000.000 đồng; các khoản nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của ông L, bà C nên các đương sự cùng có trách nhiệm liên đới về nghĩa vụ trả nợ số tiền trên cho ông H theo quy định tại các điều 27, 30 và 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Do đó, ông H yêu cầu ông L, bà C trả lại số tiền nêu trên là có căn cứ nên được chấp nhận.
Án phí dân sự sơ thẩm: Theo khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông L, bà C phải chịu là 2.000.000 đồng (40.000.000 x 5%).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 244 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 463 và 466 của Bộ luật Dân sự; điều 27, 30 và 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí H về yêu cầu ông Phạm Văn L và bà Huỳnh Thị C trả số tiền 10.000.000 đồng (không có làm biên nhận). Ông H có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H. Buộc ông L và bà C trả cho ông H số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông H cho đến khi thi hành án xong khoản tiền phải trả thì hàng tháng ông L, bà C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
3.Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông L, bà C phải chịu 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) (chưa nộp).
- Ông H không phải chịu. Hoàn trả lại cho ông H số tiền 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) đã nộp tạm ứng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010605 ngày 11/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi; - Chị cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Càn |