vanban.org

Bản án 64/2019/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum Tuyên án 14/11/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” của người yêu cầu chị Nguyễn Thị Thanh T, đơn đề ngày 31/5/2019.

Tuyên bố: Anh Nguyễn Văn N, sinh ngày 10/10/1987. Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Thôn 1B, xã Đăk L, huyện Đăk H, tỉnh KonTum mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Căn cứ Điều 144; Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 35, Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/201… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Chị Trúc có đơn yêu cầu tòa án tuyên bố anh Ninh chồng chị mất tích"
  • Tòa quyết gì? * Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” của người yêu cầu chị Nguyễn Thị Thanh T, đơn đề ngày 31/5/2019.
  • Căn cứ chính? Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐĂK HÀ
TỈNH KONTUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 64/2019/QĐST-VDS.Đăk Hà, ngày 14 tháng 11 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK HÀ, TỈNH KONTUM

Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Ngô Văn Minh

Thư ký phiên họp: Ông Vũ Đức Huynh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố KonTum, tỉnh KonTum.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh KonTum tham gia phiên họp: Bà Đàm Thị Bé - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà,tỉnh KonTum mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 50/2019/TLST-VDS ngày 07/6/2019 về việc "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2019/QĐPH-ST ngày 06/11/2019 gồm những thành phần sau đây:.

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn 1B, xã Đăk L, huyện Đăk H, tỉnh KonTum

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Ngày 30/5/2019 chị Nguyễn Thị Thanh T cơ đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Văn N, sinh ngày 10/10/1987. Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Thôn 1B, xã Đăk L, huyện Đăk H, tỉnh KonTum mất tích; mục đích để giải quyết việc ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp của các đương sự và Đại diện viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh KonTum nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Nguyễn Thị Thanh T có nội dung đúng theo quy định tại Điều 362 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; khoản 2 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì yêu cầu giải quyết việc dân sự nói trên của người yêu cầu chị Nguyễn Thị Thanh Trúc là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh KonTum.

Về nội dung việc dân sự xét thấy: Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Nguyễn Văn N kết hôn với nhau vào ngày 04/9/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Đăl L, huyện Đăk H. Trong thời gian sống chung có 01 người con chung tên là Nguyễn An P, sinh ngày 11/3/2010. Hiện nay, cháu đang ở với chị Nguyễn Thị Thanh T. Về tài sản chung, nợ chung trong quá trình chung sống hai bên không tạo lập được tài sản chung gì và cũng không nợ nần ai. Tuy nhiên, từ tháng 4 năm 2014 anh Nguyễn Văn N bỏ nhà đi đến nay không có tin tức gì mà không nói cho ai biết là đi đâu, làm gì. Sau khi anh Nguyễn Văn N bỏ nhà đi khỏi nơi cư trú thì không liên lạc gì với người thân trong gia đình kể từ khi bỏ đi cho đến nay. Theo chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày thì gia đình đã nhiều lần đi tìm nhưng không có tin tức gì của Nguyễn Văn N. Ngày 22/10/2014 chị Nguyễn Thị Thanh T đã làm đơn xin xác nhận của thôn trưởng thôn 1B và công an xã Đăk La xác nhận anh Ninh bỏ nhà đi 02 lần. Lần thứ nhất từ ngày 28/3/2013 đến ngày 29/01/2014; lần thứ hai bỏ nhà đi từ ngày 01/3/2014. Ngày 04/7/2017 chị Nguyễn thị Thanh T cũng đã làm thủ tục đăng thông báo tìm kiếm người nhà trên đài truyền thanh, truyền hình huyện Đăk Hà. Đến ngày 20/11/2017 chị Nguyễn Thị Thanh T tiếp tục có đơn yêu cầu thôn trưởng thôn 1B và công an xã xác nhận anh Nguyễn Văn N bỏ đi không có mặt ở địa phương. Xét thấy, việc anh Nguyễn Văn N bỏ nhà đi khỏi nơi cư trú từ năm 2014 đến nay đã được công an xã Đăk La xác nhận nên chị Nguyễn Thị Thanh T làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Văn N mất tích. anh Nguyễn Văn N bỏ nhà đi từ năm 2014 đến nay là 05 năm. Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà đã ra thông báo tìm kiếm anh Nguyễn Văn N trên báo Công lý 03 số liên tiếp từ số 54 ngày 05/7/2019, số 55 ngày 10/7/2019, số 56 ngày 12/7/2019 và thông báo tìm kiếm anh Nguyễn Văn N trên Đài truyền hình Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng trong 03 ngày liên tiếp từ ngày 02 đến ngày 04 tháng 7 năm 2019 nhưng vẫn không có tin tức gì của anh Nguyễn Văn N. Ngày 11/11/2019 Tòa án nhân dân huyện Đăk hà cũng đã tiến hành xác minh những người có liên quan đến anh Nguyễn văn N cũng xác định anh Nguyễn văn N hiện nay không có tin tức gì quá trình sinh sống tại xã Đăk La anh Nguyễn văn N có 01 con chung với chị nguyễn thị Thanh T tên là Nguyễn An P, sinh ngày 11/3/2010 . Về tài sản chung của vợ chồng anh N, chị T cũng không có tài sản chung gì và cũng không nợ nần ai. Do đó, việc chị Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Nguyễn Văn N mất tích là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015 và các Điều 387, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích của người yêu cầu chị Nguyễn Thị Thanh T.

Đối với chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích do người yêu cầu phải chịu chi phí và chị Nguyễn Thị Thanh T đã nộp xong nên không xem xét.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng lệ phí Tòa án giải quyết việc dân sự theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; khoản 2 Điều 39; Điều 40, Điều 357, Điều 361, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372; Điều 387 và Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015;

* Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” của người yêu cầu chị Nguyễn Thị Thanh T, đơn đề ngày 31/5/2019.

Tuyên bố: Anh Nguyễn Văn N, sinh ngày 10/10/1987. Địa chỉ cư trú trước khi biệt tích: Thôn 1B, xã Đăk L, huyện Đăk H, tỉnh KonTum mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Căn cứ Điều 144; Điều 149 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 35, Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2016/0000558 ngày 03/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum.

Chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 2.127.000 đ (hai triệu, một trăm hai mươi bảy ngàn đồng) tiền chi phí thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Số tiền này chị T đã nộp đủ nên không yêu cầu nộp nữa.

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Áp dụng điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày 14/11/2019 người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định để yêu cầu xem xét theo trình tự phúc thẩm. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ