- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo L T Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2019/ HSST Ngày 26 tháng 8 năm 2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU-TỈNH BẠC LIÊU
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Thị Mỹ Hằng
Hội thẩm nhân dân: Bà Dư Thị Út và ông Thạch Hương
- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Chị Phạm Thị Chi - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Mai Chí Nguyện – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 67/2019/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: L T Q, sinh ngày 21/7/1999 tại Bạc Liêu; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn CH, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông L V K, sinh năm 1979 và bà T T K N, sinh năm 1980; Anh, chị, em ruột: 02 ngư i lớn nhất sinh năm 1997, nh là bị cáo . Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm gi ngày 22/3/2019, bị khởi tố và tạm giam đến nay. có mặt
NHẬN THẤY:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 gi ngày 22/3/2019 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên L T Q lấy xe mô tô nhãn hiệu AIRBLADE biển kiểm soát 94K1-HHHHHH của bà L T T điều khiển đến hẻm không số đư ng HB thuộc khóm O, phư ng P, thành phố Bạc Liêu gặp ngư i thanh niên không rõ họ tên, địa chỉ mua 03 bịch ma túy với giá 700.000 đồng, rồi điều khiển xe đến tiệm game bắn cá H G thuộc khóm U, phư ng P, thành phố Bạc Liêu chơi game bắn cá đến khoảng 16 gi cùng ngày do thua hết tiền nên nghỉ. Sau đó, Quốc điều khiển xe mô tô đến nhà nghỉ ## khóm U, phư ng Y, thành phố Bạc Liêu dự định thuê phòng để sử dụng ma túy đá thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bạc Liêu bắt quả tang lúc 16 gi 20 phút cùng ngày.
Tang vật thu gi gồm: 03 bịch nylon được hàn kín hai đầu, lần lượt có kích thước 02cm x 3,5cm, 01cm x 3,5cm, 01cm x 2,5cm bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô hiệu AIRBLADE, biển kiểm soát 94K1-HHHHHH.
Kết luận giám định số 19/KLGĐ-PC09, ngày 23/3/2019, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu, kết luận: Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể trong 03 gói nylon, là chất ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,6808 gam.
Tại bản Cáo trạng số 66/QĐ-KSĐT ngày 21/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo L T Q về tội “Tàng tr trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo L T Q khai nhận hành vi phạm tội của mình như các l i khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra và như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu. Đồng th i, tại phiên tòa bị cáo L T Q xác định: Số ma túy bị cáo mua nhằm mục đích sử dụng cá nhân, không vì mục khác nào khác, bị cáo bắt đầu sử dụng ma túy từ mấy tháng trước khi bị bắt.
- Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu gi quyền công tố tại phiên tòa, sau khi nêu tóm tắt nội dung và phân tích tính chất của vụ án, nh ng tình tiết về nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nh trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật v n gi nguyên quan điểm theo như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo L T Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo L T Q với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy: Lượng ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định có khối lượng: 0,6281 gam. Đối với: 01 xe mô tô nhãn hiệu AIRBLADE biển kiểm soát 94K1-HHHHHH là của bà L T T đã trao trả cho bà Thủy là phù hợp.
Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo L T Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Đối với bà L T T không biết Q mua ma túy để sử dụng nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của Q, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Đối với ngư i bán ma túy cho Q do không rõ lai lịch và địa chỉ cụ thể nên chưa m i làm việc được. Vì vậy giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bạc Liêu tiếp tục điều tra làm rõ.
- Bị cáo nói l i sau cùng: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho bị cáo.
XÉT THẤY
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bạc Liêu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố; L i khai nhận của bị cáo phù hợp và thống nhất với các l i khai tại biên bản bắt ngư i phạm tội quả tang, t nhận tội, biên bản ghi l i khai, biên bản h i cung trong giai đoạn điều tra. Phù hợp với các chứng cứ khác như biên bản trong quá trình điều tra, kết luận giám định và các chứng cứ thu gi của bị cáo. Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận:
Do bản thân là đối tượng nghiện ma túy nên vào khoảng 16 gi 20 phút, ngày 22/3/2019 tại nhà nghĩ ## khóm O, phư ng Y, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu L T Q đã tàng tr trái phép 0,6808 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân, đã bị cơ quan Công an bắt quả tang và thu gi toàn bộ số ma túy đang cất giấu. Bản thân bị cáo Q biết tinh thể màu trắng bị cáo tàng tr là ma túy đá, bị cáo nhận thức được chất ma túy là chất gây nghiện.
Hành vi của bị cáo trong lần phạm tội quả tang đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng ngư i đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội là nguyên nhân gây ra các căn bệnh xã hội và các loại tội phạm khác. Khi thực hiện hành vi bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy cần xử lý đối với bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích và c㌳ng để răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét giảm nh một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu AIRBLADE biển kiểm soát 94K1-HHHHH là của bà L T T, bà T không biết bị cáo Q dùng chiếc xe này để đi mua ma túy nên cơ quan Điều tra đã trả lại cho đã trả lại chiếc xe cho bà Thủy là phù hợp.
- Tịch thu, tiêu hủy: Lượng ma túy còn lại sau giám định có khối lượng 0,6281 gam Methamphetamine Trong gói niêm phong đã được đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu
Về án phí: Bị cáo Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các vấn đề khác:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của L T Q, Công an thành phố Bạc Liêu ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
Đối với ngư i bán ma túy cho bị cáo, do không xác định được lai lịch địa chỉ, không làm việc được. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bạc Liêu tiếp tục xác minh điều tra làm rõ lý lịch nhân thân.
Đối với bà L T T không biết Q mua ma túy để sử dụng nên không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo L T Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo L T Q 01 một năm tù.
Th i hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm gi 22/3/2019.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 một gói niêm phong, trên gói niêm phong có dòng ch “Vụ số 19/GĐ2019”, có dấu tròn màu đ của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bạc Liêu, có ch ký Đ V T M u vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,6281 gam . Gói niêm phong còn nguyên v n. Lượng ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định . Vật chứng nêu trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/6/2019.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo L T Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nôi nhaän : - TAND tænh Baïc Lieâu; - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu; - VKSND TP Baïc Lieâu; - Nhaø taïm giöõ TP Baïc Lieâu; - Coâng an TP Baïc Lieâu; - Chi cuïc Thi haønh aùn Tp Baïc Lieâu; - Bò caùo; - Löu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thị Mỹ Hằng |