- Tranh chấp gì? án hình sự — "Kiều Văn D - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Kiều Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2019/HS-ST Ngày 23-5-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thành Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Đào Văn Nô;
2/ Ông Huỳnh Sơn Tây.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Lài - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2019, đối với bị cáo:
Kiều Văn D, sinh năm 1972 tại: Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp 1, xã H, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kiều Đức D, sinh năm 1939 và bà Đào Thị T, sinh năm 1939; bị cáo có vợ Bùi Thị Y, sinh năm 1975; Bị cáo có 02 người con, người lớn sinh năm 2005, người nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Ông Nguyễn Đình L, sinh năm 1988; địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1990; địa chỉ: Xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang; vắng mặt.
- Ông Dư Quang Đ, sinh năm 1969; địa chỉ: Khu phố 7, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Tấn T, sinh năm 1953; địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Ông Lê Văn D, sinh năm 1972; địa chỉ: khu phố 4, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Ông Tạ Quốc T, sinh năm 1982; địa chỉ: khu phố 7, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Kiều Văn D có giấy phép lái xe ôtô hạng D, số 79013541884 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 09/01/2017 có thời hạn đến ngày 09/01/2022.
Khoảng 15 giờ 30 ngày 20/11/2018, D điều khiển xe ô tô biển số 51C - 020.13 lưu thông trên đường nhánh bên trái theo hướng đi từ ngã ba dốc Bà Nghĩa về hướng ngã ba Thị Đội. Khi lưu thông đến đoạn giao nhau với đường ĐH412 thuộc khu phố 3, phường U, thị xã Tân Uyên, Bình Dương, D điều khiển xe ô tô biển số 51C-020.13 lưu thông chuyển hướng rẽ trái để tiếp tục đi về hướng ngã ba Thị Đội, do không chú ý quan sát nên D không nhường đường cho các phương tiện đang lưu thông trên đường chính (đường ĐH412), khi D điều khiển xe 51C-020.13 lưu thông ra đến phần đường bên phải của đường ĐH412 theo hướng lưu thông đi từ ngã ba dốc Bà Nghĩa về hướng ngã ba Thị Đội, thì phần phía trước đầu xe ô tô biển số 51C-020.13 va chạm vào phía trước phần đầu xe ô tô biển số 61C-129.71 do ông Nguyễn Đình L (sinh năm: 1988, HKTT xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển đang lưu thông trên đường ĐH412 theo hướng đi từ ngã ba dốc Bà Nghĩa về hướng ngã ba Thị Đội. Sau khi va chạm, phần đầu xe ô tô biển số 51C-020.13 tiếp tục va chạm vào phần đầu và hông trái của xe ô tô biển số 61A-242.17 do ông Nguyễn Văn K, (sinh năm 1990, HKTT: xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang; có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển và va chạm vào phần đầu xe bên trái của xe ô tô biển số 51D - 310.65 do ông Dư Quang Đ (sinh năm 1969, HKTT: xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển đang lưu thông trên đường ĐH412 theo hướng ngã ba Thị Đội về hướng dốc Bà Nghĩa. Hậu quả, Kiều Văn D thương tích nhẹ, 04 xe ô tô hư hỏng.
Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra trên đường ĐH412, đoạn đường xảy ra tai nạn thẳng, được trải nhựa phẳng rộng 10,50m, giữa mặt đường có vạch sơn đôi màu vàng liên tục chia mặt đường thành hai phần đường, mỗi phần đường rộng 5,20m. Tại nơi xảy ra tai nạn không có vạch sơn giữa đường và có đoạn đường nhánh (đường đá) bên trái theo hướng chọn.
Chọn mép lề phải theo hướng lưu thông đi từ ngã ba dốc Bà Nghĩa về hướng ngã ba Thị Đội làm lề chuẩn để đo đạt hiện trường.
Lấy trụ điện số 30 là vật cố định trên hành lan đường bên phải theo hướng chọn làm điểm chuẩn. Khoảng cách từ điểm chuẩn đo đến trục trước xe ô tô biển số 61C-129.71 là 9,30m.
Xe ô tô biển số 61C-129.71 (vị trí số 07) lưu thông theo hướng từ ngã ba dốc Bà Nghĩa về hướng ngã ba Thị Đội. Sau tai nạn, xe dừng lại trên phần đường bên phải theo hướng lưu thông, đầu xe hướng ngã ba Thị Đội, đuôi xe hướng ngã ba dốc Bà Nghĩa.
Xe ô tô biển số 61C-129.71 để lại 03 vết phanh:
- Vết phanh lốp sau bên trái (vị trí số 02) dài 09m, điểm đầu vết đo đến mép lề chuẩn là 04m, điểm cuối vết tại vị trí lốp sau bên trái.
- Vết phanh lốp sau bên phải (vị trí số 01) dài 13,10m, điểm đầu vết đo đến mép lề chuẩn là 2,20m, điểm cuối vết tại vị trí lốp sau bên phải.
- Vết phanh lốp trước bên trái (vị trí số 03) dài 07m, điểm đầu vết đo đến mép lề chuẩn là 3,90m và đo đến điểm va chạm là 1,50m, điểm cuối vết tại vị trí lốp trước bên trái.
Xe mô tô biển số 51C-020.13 (vị trí số 12) sau tai nạn, xe ô tô dừng lại trên phần đường bên phải theo hướng lưu thông đi từ từ ngã ba dốc Bà Nghĩa về hướng ngã ba Thị Đội, đầu xe hướng ngã ba Thị Đội và chếch vào lề phải, đuôi xe hướng ngã ba dốc bà Nghĩa.
Xe ô tô biển số 51C-020.13 để lại 04 vết sạc lốp:
- Vị trí số 04 vết lốp sau bên phải theo hướng từ đường nhánh ra đường ĐH412 cong về hướng ngã ba Thị Đội dài 3,70m, điểm đầu đo đến mép lề chuẩn là 7,30m (vị trí số 05).
- Vị trí số 06 vết lốp sau bên phải hình vòng cung chếch sang lề trái theo hướng chọn dài 2,80m, điểm đầu vết tại vị trí điểm va chạm, điểm cuối vết cách điểm đầu vết hằn lốp sau bên trái (vị trí số 09) là 2,80m.
- Vị trí số 11 là vết lốp trước bên phải hình vòng cung dài: 06m, điểm đầu vết cách vị trí số 09 là 04m, điểm cuối vết cách mép lề chuẩn là: 4,30m.
- Vị trí số 09 là vết hằn lốp sau bên trái dài 27,70m, cuối vết tại vị trí lốp sau bên trái của xe.
Xe ô tô biển số 61A-242.17 (vị trí số 08) lưu thông theo hướng từ hướng ngã ba Thị Đội về ngã ba dốc bà Nghĩa. Sau tai nạn, xe dừng lại trên phần đường bên phải theo hướng lưu thông, đầu xe hướng ngã ba dốc bà Nghĩa, đuôi xe hướng ngã ba Thị Đội.
Xe ô tô biển số 51D-310.65 (vị trí số 10) lưu thông theo hướng từ hướng ngã ba Thị Đội về ngã ba dốc bà Nghĩa. Sau tai nạn, xe dừng lại trên phần đường bên phải theo hướng lưu thông, đầu xe hướng ngã ba dốc Bà Nghĩa
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên tạm giữ (BL 18 - 21):
- 01 (Một) xe ô tô 51C – 020.13, 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe và 01 (Một) Giấy chứng nhận kiểm định xe 51C – 020.13, 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng D tên Kiều Văn D.
- 01 (Một) xe ô tô 61A – 242.17, 01 (Một) Giấy chứng nhận kiểm định xe 61A – 242.17, 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng A1, B2 tên Nguyễn Văn K.
- 01 (Một) xe ô tô 51D – 310.65, 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe và 01 (Một) Giấy chứng nhận kiểm định xe 51D – 310.65, 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng A1, C tên Dư Quảng Đ.
- 01 (Một) xe ô tô 61C – 129.71, 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe và 01 (Một) Giấy chứng nhận kiểm định xe 61C – 129.71, 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng C tên Nguyễn Đình L.
Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 284/KLTS-TTHS ngày 14/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Tân Uyên, kết luận: Thiệt hại về tài sản của xe ô tô biển số 61C – 129.71 khi xảy ra tai nạn vào ngày 20/11/2018 là 12.200.000đ (Mười hai triệu hai trăm nghìn đồng); Xe ô tô biển số 61A - 242.17 là 91.924.000 đồng (Chín mươi mốt triệu chín trăm hai mươi bốn nghìn đồng); Xe ô tô biển số 51D - 310.65 là 34.497.000 đồng (Ba mươi bốn triệu bốn trăm chín mươi bảy nghìn đồng).
Như vậy, tổng thiệt hại về tài sản do vụ tai nạn giao thông ngày 20/11/2018 do Kiều Văn D gây nên là 138.621.000 đồng (Một trăm ba mươi tám triệu sáu trăm hai mươi mốt nghìn đồng).
Xe ô tô biển số 61A – 242.17 do bà Phạm Thị U (sinh năm 1976, HKTT: khu phố 4, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương; bà U thuê ông K điều khiển xe 61A – 242.17 chở những người trong công ty đi công tác), đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Ngày 20/11/2018, bà Phạm Thị U giao xe này cho ông Nguyễn Văn K điều khiển và bị tai nạn. Ngày 07/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên ra Quyết định xử lý vật chứng số 37 trả lại xe ô tô biển số 61A – 242.17, 01 (Một) Giấy chứng nhận kiểm định xe 61A – 242.17 cho ông Lê Văn D (sinh năm 1972, HKTT: khu phố 4, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương; là người được bà U ủy quyền) (BL 116, 139 - 141).
Xe ô tô biển số 51D – 310.65 do Công ty TNHH TM FF (địa chỉ: 20 Nội Khu 2, MV 2, phường T, quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Ngày 20/11/2018, Công ty TNHH TM FF giao xe này cho ông Dư Quảng Đ điều khiển và bị tai nạn. Ngày 07/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên ra Quyết định xử lý vật chứng số 36 trả lại xe ô tô biển số 51D – 310.65, 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe và 01 (Một) Giấy chứng nhận kiểm định xe 51D – 310.65 cho ông Tạ Quốc T (sinh năm 1982, HKTT: khu phố 7, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; là người được Công ty TNHH TM FF ủy quyền) (BL 72, 93, 117, 146 - 148).
Xe ô tô biển số 61C – 129.71 do ông Lê Tấn T (sinh năm 1953, HKTT: xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương, ông T thuê ông L điều khiển xe ô tô biển số 61C – 129.71 vận chuyển hàng hóa cho ông T) đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Ngày 20/11/2018, ông Lê Tấn T giao xe này cho ông Nguyễn Đình L điều khiển và bị tai nạn. Ngày 07/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên ra Quyết định xử lý vật chứng số 34 trả lại xe ô tô biển số 61C – 129.71, 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe và 01 (Một) Giấy chứng nhận kiểm định xe 61C – 129.71 cho ông Lê Tấn T (BL 119, 160 - 163).
- Xe ô tô 51C – 020.13 do Hợp tác xã TP, địa chỉ: số 158 T, phường 13, quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên đăng ký. D khai: D mua xe ô tô 51C – 020.13 của Hợp tác xã TP vào năm 2018, có làm hợp đồng mua bán nhưng không làm thủ tục chuyển quyền sở hữu theo quy định. Ngày 07/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên ra Quyết định xử lý vật chứng số 35 trả lại xe ô tô 51C – 020.13, 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe và 01 (Một) Giấy chứng nhận kiểm định xe 51C – 020.13 cho Duân (59, 60, 90, 1, 118, 99).
Ngày 07/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên ra Quyết định xử lý vật chứng số 38 trả lại 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng A1, B2 tên Nguyễn Văn K cho ông K, 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng A1, C tên Dư Quảng Đ cho ông Đ. 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng C tên Nguyễn Đình L cho ông L.
Về phần trách nhiệm dân sự:
Kiều Văn D đã thỏa thuận và bồi thường thiệt hại cho ông Tạ Quốc T số tiền 24.800.000 đồng; bà Phạm Thị U số tiền 60.000.000đồng; ông Lê Tấn T số tiền 5.000.000 đồng. Ông T, ông D (được bà U ủy quyền) và ông T không có yêu cầu gì khác và làm đơn xin bãi nại, xem xét miễn trách nhiệm hình sự cho D.
Bản Cáo trạng số 64/CT-VKSTU ngày 22-4-2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Kiều Văn D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh như cáo trạng và xác định sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại; gia đình bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Kiều Văn D với số tiền từ 40 – 50.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
Trả lại bị cáo 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng D, số 790135041884 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 09-01-2017 có giá trị đến ngày 09-01-2022 có tên Kiều Văn D.
Ta ̣i phiên tòa, bi ̣ cáo Kiều Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi trong vụ tai nạn giao thông mà Tòa xét xử và xin Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt phù hợp cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Tân Uyên, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Kiều Văn D tại phiên tòa khai nhận phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị cáo trước sau thống nhất với nhau và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận: Ngày 20-11-2018, Kiều Văn D điều khiển xe ô tô biển số 51C-020.13 tham gia giao không chú ý quan sát và không nhường đường cho các phương tiện đang lưu thông trên đường chính dẫn đến gây tai nạn giao thông với xe ô tô biển số 61C-129.71; xe ô tô biển số 61A-242.17 và xe ô tô biển số 51D - 310.65. Hậu quả làm thiệt hại với tổng trị là 138.621.000 đồng (Một trăm ba mươi tám triệu sáu trăm hai mươi mốt nghìn đồng). Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 2 và khoản 5 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ và đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” vớ i tình tiết đi ̣nh khung được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Bản thân bi ̣ cáo đủ năng lực chi ̣u trách nhiê ̣m hinh sự. Do vâ ̣y, Cáo trạng của Viện Kiểm sát truy tố bị
̀ cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại tài sản của bi ̣ ha ̣i. Với tình hình tai nạn giao thông xảy ra ngày càng gia tăng như hiện nay, là do ý thức không chấp hành luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông mà phần lớn là lỗi của người điều khiển phương tiê ̣n vi phạm luật giao thông đường bộ dẫn đến gây tai nạn. Hậu quả của những hành vi này là gây thiệt hại đến tài sản của người khác. Do đó, đối với hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo đã thực hiê ̣n. Đồng thời, cũng nhằm răn đe những người tham gia giao thông nhưng không tuân thủ luật giao thông đường bộ, xem thường pháp luật. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bi ̣ cáo, cha của bị cáo là người có công với đất nước được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp du ̣ng tinh tiết
̀ giảm nhe ̣ quy đi ̣nh ta ̣i điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
Mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên đề nghị đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng D, số 790135041884 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 09-01-2017 có giá trị đến ngày 09-01-2022 có tên Kiều Văn D do bị cáo không bị áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định nên trả lại bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Kiều Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Kiều Văn D: 45.000.000 đồng.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
Trả lại bị cáo 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng D, số 790135041884 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 09-01-2017 có giá trị đến ngày 09-01-2022 có tên Kiều Văn D.
(Thể hiện tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23-4-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bô ̣ luâ ̣t Tố tụng hinh sự, Điều 23 Nghị
̀ quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủ y ban thương vu ̣ Quốc hô ̣i
̀ khóa 14 quy đi ̣nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buô ̣c bị cáo Kiều Văn D phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - PV06, Công an tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Tân Uyên; - Công an thị xã Tân Uyên; - Chi cục THADS thị xã Tân Uyên; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: VT; HS. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Tống Văn Tâm Nguyễn Thị Ngọc Anh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thành Hiệp THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thành Hiệp |