vanban.org

Bản án 64/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 22/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Công Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vũ Công Th 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 03/10/2019. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Công Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP
TỈNH NINH BÌNH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2019/HS-ST
Ngày 22-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Lê Thanh Sơn;

+ Bà Đinh Thu Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2019/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Vũ Công Th, sinh ngày 10/8/1974; nơi sinh: Huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn P, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Công L (đã chết) và bà Phạm Thị D (đã chết); có vợ (đã ly hôn), có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Tại Bản án số 59 ngày 30/11/2011 của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 28 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 18/01/2014 đã chấp hành xong hình phạt tù;

+ Tại Bản án số 33 ngày 09/9/2016 của Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; ngày 19/02/2017 đã chấp hành xong hình phạt tù.

+ Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 114 ngày 31/01/2019 của Công an phường Trung Sơn, thành phố Tam Điệp xử phạt cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/10/2019 đến ngày 06/10/2019 chuyển tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình theo Lệnh tạm giam số 29/CQĐT ngày 05/10/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.(Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Hoàng Ngọc L, sinh năm 1996;

Nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt)

+ Anh Hoàng Ngọc T, sinh năm 1998;

Nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt)

+ Chị Vũ Thị Tam T, sinh năm 1979;

Nơi cư trú: Tổ A, phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình.(Có mặt).

- NLC. (Vắng mặt)

- NCK. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 03/10/2019 Tổ công tác Công an thành phố Tam Điệp đang tuần tra trên đoạn đường Ninh Tốn thuộc thôn 4B, xã Đông Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình yêu cầu kiểm tra, bắt quả tang Vũ Công Th có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Hoàng Ngọc L. Thu giữ, niêm phong 01 gói bọc giấy bạc màu vàng, bên trong có chất bột màu trắng do L tự lấy ra từ túi quần phía sau bên phải giao nộp và khai nhận là Heroine vừa mua được của Th với giá 200.000 đồng; thu giữ và niêm phong 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng Th đang cầm trên tay trái và khai nhận là tiền có được do vừa bán 01 gói Heroine cho L. Ngoài ra, Tổ công tác còn thu giữ của L 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy J8 màu vàng lắp 01 sim Viettel số 0843286691; thu giữ của Th 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 106 lắp 01 sim Vinaphone số 0914484880, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh lắp 02 sim Vinaphone và Mobifone, số tiền 6.390.000 đồng cùng 01 xe mô tô biển kiểm soát 35B2-45774.

Tại cơ quan điều tra Vũ Công Th khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 03/10/2019 có một người nam thanh niên không quen biết gọi điện thoại từ số 0843286691 đến số điện thoại 0914484880 của Th hỏi mua của Thành 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng; Th đồng ý và hẹn gặp L tại ngã tư chợ Đông Sơn, thành phố Tam Điệp để bán Heroine. Sau khi nghe điện thoại của L, Th điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream, biển kiểm soát 35B2-45774 đi từ nhà, mang theo người 06 gói Heroine đều được bọc ngoài bằng lớp giấy bạc màu vàng và để trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có viền màu đỏ. Khi còn cách ngã tư chợ Đông Sơn khoảng 500m, Th dừng xe mô tô tại lề đường Ninh Tốn, phía bên phải theo hướng đi ra Quốc lộ 1A rồi đi bộ vào đường ngõ khoảng 5m. Tại đây Th lấy ra 01 gói Heroine bỏ vào túi quần bên trái để mang đi bán cho L rồi cất giấu túi nilon đựng 05 gói Heroine còn lại tại ô thoáng của bức tường bao bằng gạch bi của nhà anh Lê Văn T. Sau đó, Th điều khiển xe mô tô tiếp tục đi đến ngã tư chợ Đông Sơn thì thấy L đang đứng ở lề đường Ninh Tốn phía bên trái theo hướng đi. Th lấy gói Heroine ra cầm ở tay trái và đi đến dừng xe mô tô ngay cạnh vị trị L đang đứng. Th và L có hỏi nhau để xác nhận L là người gọi điện hẹn mua Heroine rồi L đưa cho Th 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng bằng tay phải, Th nhận tiền bằng tay trái và đưa cho L 01 gói Heroine được bọc bằng lớp giấy bạc màu vàng; L cầm gói Heroine cất giấu vào trong túi quần phía sau bên phải thì bị công an bắt quả tang.

Sau khi lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, quá trình lấy lời khai Vũ Công Th đã khai nhận vị trí Th cất giấu 05 gói ma túy loại Heroine còn lại mà Th mang đi để bán. Tổ công tác Công an thành phố Tam Điệp đã tiến hành thu giữ và kiểm tra 01 túi nilon màu trắng, một đầu có viền màu đỏ, có 05 gói nhỏ đều được bọc bằng lớp giấy bạc màu vàng, bên trong đều có chất bột màu trắng do Th tự lấy ra từ một ô thoáng trên bức tường bao bằng gạch bi của nhà anh Lê Văn T giao nộp và khai nhận đều là ma túy loại Heroine.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Công Th tại thôn P, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, thu giữ 05 mảnh giấy bạc màu vàng và 01 dao dài 21cm, Th khai nhận là đồ vật còn lại sau khi Th đã dùng để cắt giấy bạc gói ma túy loại Heroine mang đi bán.

Tại bản kết luận giám định số 307/KLGĐ-PC09-MT ngày 05/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất bột mầu trắng gửi giám định ký hiệu từ M1 đến M6 có khối lượng như sau: M1 là 0,0522 gam; M2 0,0806 gam; M3 0,0859 gam; M4 0,0787 gam; M5 0,0908 gam; M6 0,0993 gam. Tổng khối lượng chất bột mầu trắng gửi giám định ký hiệu từ M2 đến M6 là 0,4353 gam. Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định ký hiệu từ M1 đến M6 đều là ma túy, loại Heroine. Heroine là chất ma túy thuộc danh mục I, số thứ tự 9, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 69/CT-VKS ngày 06/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo Vũ Công Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp vẫn giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Công Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Công Th từ 27 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 03/10/2019. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 §iÒu 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì giấy gián kín niêm phong, bên trong có: 01 túi nilon màu trắng, một đầu có viền màu đỏ; 06 mảnh giấy bạc màu vàng và 02 vỏ phong bì giấy đã dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của Vũ Công Th và Hoàng Ngọc L; 01vỏ phong bì giấy đã dùng để niêm phong điện thoại di động và tiền thu giữ của Vũ Công Th; 01vỏ phong bì giấy đã dùng để niêm phong điện thoại di động thu giữ của Hoàng Ngọc L; 01 phong bì giấy dán kín mép niêm phong theo đúng thủ tục pháp luật còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi số: 307/KLGĐ-PC09-MT, bên trong gồm: chất bột màu trắng còn lại trong các mẫu giám định ký hiệu từ M1 đến M6, đều là ma túy, loại Heroine có khối lượng như sau M1 = 0 gam, M2 = 0,0339 gam, M3 = 0,0464 gam, M4 = 0,0369 gam, M5 = 0,0413 gam, M6 = 0,0442 gam và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01chiếc sim Vinaphone số 0914484880; 01chiếc sim VIETTEL số 0843286691; 05 mảnh giấy; 01 dao loại nhỏ. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: Số tiền 200.000 đồng do bị cáo Vũ Công Th bán ma túy mà có và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 106 màu đen đã cũ.

Trong quá trình điều tra, anh Hoàng Ngọc L trình bày: Khoảng 10 giờ ngày 03/10/2019 do có nhu cầu sử dụng ma túy, L đã gọi điện thoại cho Th hỏi mua ma túy với giá 200.000 đồng. Quá trình mua bán L đưa cho Th một tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng bằng tay phải còn Th đưa cho L một gói nhỏ bọc giấy bạc màu vàng bằng tay trái, L cầm lấy và đút vào túi quần, sau đó bị công an đến yêu cầu kiểm tra.

Tại phiên tòa, chị Vũ Thị Tam T trình bày: Ngày 02/10/2019 anh Vũ Công Th có đến nhà chị mượn chiếc xe máy biển kiểm soát 35B2-45774 của chị để đi lại. Chị không biết anh Th mượn xe máy đi đâu, làm gì.

Trong quá trình điều tra anh Hoàng Ngọc T trình bày: Ngày 01/10/2019 do anh L không có điện thoại để sử dụng nên T đã cho anh L mượn chiếc điện thoại Samsung Galaxy J8 để sử dụng. Anh L đã lắp sim của mình vào để sử dụng. Anh T không biết Lộc sử dụng điện thoại vào việc gì.

Trong quá trình điều tra, NLC trình bày: Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 03/10/2019 khi NLC đang ngồi uống nước tại một quán nước ven đường thì thấy phía bên cạnh quán nước cách khoảng 10m có một nam thanh niên và một người đàn ông lạ mặt trao đổi với nhau vật và tiền gì đó.

Trong quá trình điều tra, NCK trình bày: Ngày 03/10/2019 NCK chứng kiến việc cơ quan công an kiểm tra lập biên bản đối với hai nam thanh niên có hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi bị truy tố như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp là đúng. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Th đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; lời khai của người làm chứng, người chứng kiến; sơ đồ hiện trường; vật chứng đã thu giữ; kết luận giám định số 307/KLGĐ-PC09-MT ngày 05/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 03/10/2019 tại thôn 4B, xã Đông Sơn, thành phố Tam Điệp bị cáo Vũ Công Th đã có hành vi bán 0,0522 gam Heroine với giá 200.000 đồng cho anh Hoàng Ngọc L; đồng thời bị cáo còn cất giữ 05 gói ma túy loại Heroine có tổng khối lượng là 0,4353 gam với mục đích để bán nhằm thu lợi bất chính.

Theo quy định khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước đối với chất ma túy. Như vậy hành của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo Vũ Công Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo và thành khẩn khai về nơi cất giấu 05 gói ma túy để bán nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã được giáo dục cải tạo song bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa, phấn đấu trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội mà lại phạm tội.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi mua bán ma túy nhằm thu lời bất chính, tuy nhiên do bị cáo không có tài sản (Bút lục 65) nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với 01 điện thoại Samsung Galaxy J8 thu giữ của Hoàng Ngọc L, cơ quan điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Ngọc T, anh T không biết việc L sử dụng điện thoại để liên lạc hỏi mua ma túy. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã trả lại cho anh Hoàng Ngọc T chiếc điện thoại nêu trên là đúng pháp luật.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 35B2-45774 thu giữ của Vũ Công Th, quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của chị Vũ Thị Tam T, chị Vũ Thị Tam T không biết bị cáo sử dụng xe để đi bán ma túy. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã trả lại cho chị Vũ Thị Tam T xe môtô nêu trên là đúng pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đối với số tiền 6.390.000 đồng là tiền của bị cáo, do bị cáo vay của em gái là chị Vũ Thị Tam T để chữa bệnh mà có; đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, bên trong có 01 sim Vinaphone số 0947482856 và 01 sim Mobiphone số 0779370966 không liên quan đến hành vi phạm tội. Do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp đã trả lại cho bị cáo thông qua chị Vũ Thị Tam T (em của bị cáo Thành - người được bị cáo Thành ủy quyền) là đúng pháp luật.

Về số ma túy còn lại sau khi giám định, gồm: chất bột màu trắng còn lại trong các mẫu giám định ký hiệu từ M1 đến M6, đều là ma túy, loại Heroine có khối lượng như sau M1 = 0 gam, M2 = 0,0339 gam, M3 = 0,0464 gam, M4 = 0,0369 gam, M5 = 0,0413 gam, M6 = 0,0442 gam là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01phong bì giấy gián kín niêm phong, bên trong có: 01 túi nilon màu trắng, một đầu có viền màu đỏ; 06 mảnh giấy bạc màu vàng và 02 vỏ phong bì giấy đã dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của Vũ Công Th và Hoàng Ngọc L; 01vỏ phong bì giấy đã dùng để niêm phong điện thoại di động và tiền thu giữ của Vũ Công Th; 01vỏ phong bì giấy đã dùng để niêm phong điện thoại di động thu giữ của Hoàng Ngọc L; 01chiếc sim Vinaphone số 0914484880; 01chiếc sim VIETTEL số 0843286691; 05 mảnh giấy, 01 dao loại nhỏ đều không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 §iÒu 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với số tiền 200.000 đồng là tiền bị cáo Vũ Công Th có được từ việc bán ma túy cho Hoàng Ngọc L do thực hiện hành vi phạm tội mà có; đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 106 màu đen đã cũ do bị cáo dùng để liên lạc bán ma túy cho Lộc là công cụ phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong vụ án này, anh Hoàng Ngọc L là người đã mua ma túy của bị cáo, do số lượng ma túy Lộc tàng trữ trái phép chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm nên Công an thành phố Tam Điệp đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 167 ngày 14/10/2019 đối với Lộc là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 §iÒu 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Công Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vũ Công Th 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 03/10/2019.

2. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

2.1. Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 phong bì giấy gián kín niêm phong, bên trong có: 01 túi nilon màu trắng, một đầu có viền màu đỏ; 06 mảnh giấy bạc màu vàng và 02 vỏ phong bì giấy đã dùng để niêm phong vật chứng thu giữ của Vũ Công Th và Hoàng Ngọc L;

+ 01vỏ phong bì giấy đã dùng để niêm phong điện thoại di động và tiền thu giữ của Vũ Công Th;

+ 01vỏ phong bì giấy đã dùng để niêm phong điện thoại di động thu giữ của Hoàng Ngọc L;

+ 01 phong bì giấy dán kín mép niêm phong theo đúng thủ tục pháp luật còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi số: 307/KLGĐ-PC09-MT, bên trong gồm: chất bột màu trắng còn lại trong các mẫu giám định ký hiệu từ M1 đến M6, đều là ma túy, loại Heroine có khối lượng như sau M1 = 0 gam, M2 = 0,0339 gam, M3 = 0,0464 gam, M4 = 0,0369 gam, M5 = 0,0413 gam, M6 = 0,0442 gam và toàn bộ vỏ bao gói niêm phong;

+ 01chiếc sim Vinaphone số 0914484880; 01chiếc sim VIETTEL số 0843286691; 05 mảnh giấy; 01 dao loại nhỏ.

2.2. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

+ Số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) do bị cáo Vũ Công Th bán ma túy mà có.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 106 màu đen đã cũ.

(Chi tiết vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/11/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình).

(Số tiền nêu trên hiện đang trong tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, theo ủy nhiệm chi lập ngày 06/11/2019 của Công an thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vũ Công Th phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ