vanban.org

Bản án 64/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 31/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Ngô Châu Hoàng V: 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 14/02/2019. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Châu Hoàng V - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Ngô Châu Hoàng V: 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LX

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 64/2019/HS-ST
Ngày 31/7/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LX, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thi Thanh Vân;

Ông Trần Thanh Việt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thành Thái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố LX, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố LX xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2019/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2019/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2019 với bị cáo:

Ngô Châu Hoàng V, sinh năm 1988, tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 181/4 đường Trần Nhật Duật, khóm A, phường ML, thành phố LX, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Chí Hiền, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh (không rõ năm sinh); bị cáo có vợ là Lương Thảo Nhi, sinh năm 1991 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2010; nhân thân: nhỏ đến lớn sống chung với cha mẹ, học đến lớp 10 nghỉ học; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/02/2019 cho đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Nguyễn Lạc H, sinh năm 1959; địa chỉ: số 53/12D, Lê Chân, khóm MP, phường MQ, thành phố LX, tỉnh An Giang, có mặt;

+ Ông Quách Phương Thảo, sinh năm 1971; địa chỉ: số 10/5, khóm HT, phường MT, thành phố LX, tỉnh An Giang, có mặt.

- Người làm chứng: Ông Lê Minh Bon, sinh năm 1950, vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ ngày 14 tháng 02 năm 2019, nhận được tố giác về tội phạm của quần chúng nhân dân, Công an thành phố LX kiểm tra xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu trắng đen, biển số 67M1-080.72 do ông Nguyễn Lạc H điều khiển chở Ngô Châu Hoàng V trên Quốc lộ 91, đoạn thuộc khóm TT, phường MTh, thành phố LX. Qua kiểm tra phát hiện trong túi áo khoác của V đang mặc có 02 gói nylon chứa tinh thể màu trắng. V khai là ma túy đá vừa mua của H không rõ họ tên, địa chỉ tại khu vực chợ cá, phường BK, thành phố LX với giá 800.000 đồng để sử dụng nên Công an đã lập biên bản phạm tội quả tang. Vật chứng thu giữ gồm: 02 gói nylon chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Viettel có gắn sim số 0976616140. * Phiếu xét nghiệm ngày 14 tháng 02 năm 2019 của Trung tâm Y tế thành phố LX, ghi nhận: Ngô Châu Hoàng V dương tính với Methamphetamine. * Kết luận giám định số 40/KLGT-PC09 ngày 22 tháng 02 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, xác định: Hộp niêm phong có in dấu tròn màu đỏ của Công an phường MTh, thành phố LX, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Lạc H, Ngô Châu Hoàng V, Lê Hoàng Triệu, Võ Hoàng Duy, Lê Minh Bon, Lê Hoài Anh gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3887 gam. Quá trình điều tra, Ngô Châu Hoàng V khai: Khoảng 09 giờ ngày 14 tháng 02 năm 2019, V gọi điện thoại cho H để mua ma túy đá sử dụng. Sau đó, V thuê ông Nguyễn Lạc H là người chạy xe mô tô khách chở đến khu vực chợ cá phường BK để nhận ma túy nhưng không nói cho ông H biết. Khi đến gần chợ cá, V kêu ông H dừng xe chờ, còn V đi bộ đến bãi đất trống cách đó khoảng 20m gặp người thanh niên không rõ họ tên, địa chỉ nhận ma túy để vào túi áo khoác rồi kêu ông H chở đến quán Karaoke Giang Huy, phường MTh để xin việc làm thì bị Công an phát hiện thu giữ ma túy. Tại Cáo trạng số 54/CT-VKS ngày 27 tháng 5 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố LX đã truy tố bị cáo Ngô Châu Hoàng V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ hình phạt.

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 02 gói nylon chứa tinh thể màu trắng có chứa ma túy; 01 điện thoại di động hiệu Viettel có gắn sim số 0976616140.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố LX, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố LX, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm hình sự: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác gồm: biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 14/02/2019 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố LX lập; Kết luận giám định số 40/KLGT-PC09 ngày 22 tháng 02 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, xác định: Hộp niêm phong có in dấu tròn màu đỏ của Công an phường MTh, thành phố LX, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Lạc H, Ngô Châu Hoàng V, Lê Hoàng Triệu, Võ Hoàng Duy, Lê Minh Bon, Lê Hoài Anh gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3887 gam; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được lưu trong hồ sơ vụ án.

Từ các căn cứ trên có cơ sở xác định, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với tổng khối lượng là 0,3887 gam Methamphetamine để sử dụng.

Bị cáo là người thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước nhưng vẫn cố ý thực hiện thông qua việc cất giấu ma túy và sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố LX truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố LX đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật. [3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân, ma tuý là chất gây nghiện. Một khi đã sử dụng thì khó có thể từ bỏ được. Chúng được xem là những nguyên nhân làm suy giảm sức khỏe, suy thoái nòi giống, phá hoại hạnh phúc gia đình. Tệ nạn ma tuý còn được xem là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội, làm lan truyền đại dịch HIV/AIDS và còn là cơ sở phát sinh nhiều tội phạm, ảnh hưởng nghiêm trọng trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người thành niên, đang ở tuổi lao động nhưng lại lao vào con đường nghiện ngập. Để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng lớn đến công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy mà Nhà nước, xã hội đang ra sức thực hiện. Do đó, cần có hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như trước phiên toà hôm nay, bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. [5] Về hình phạt bổ sung, xét bị cáo không có nghề nghiệp, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với 0,3887 gam Methamphetamine là vật cấm lưu hành. Xét, tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Viettel có gắn sim số 0976616140, được bị cáo sử dụng để liên hệ mua bán ma túy nên là phương tiện phạm tội. Đồng thời, sim số 0976616140 do ông Thảo đứng tên chủ sử dụng nhưng ông Thảo không thừa nhận và cũng không có ý kiến về sim số điện thoại này. Xét, tịch thu nộp ngân sách nhà nước. [7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Tuyên bố bị cáo Ngô Châu Hoàng V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Ngô Châu Hoàng V: 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 14/02/2019.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) hộp niêm phong ghi vụ số 40/KLGT-PC09 ngày 22 tháng 02 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ Hà, nguyễn Đăng Khoa, Lê Hoàng Triệu cùng lượng ma túy bên trong.

- Tịch thu, sung quỹ: 01 điện thoại di động màu đen viền đỏ hiệu Viettel đã qua sử dụng, chưa kiểm tra chất lượng, số IMEI1: 359430067811022, IMEI2: 359430067811030, có gắn sim số 0976616140.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/6./2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố LX với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố LX).

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Ngô Châu Hoàng V phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ