vanban.org

Bản án 64/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 09/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dƣơng Thị H phạm tội “Đánh bạc”.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của L… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Thị Hương đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dƣơng Thị H phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ TĨNH
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2019/HS-ST
Ngày: 09-10-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Duy Cừ

Ông Nguyễn Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 10 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2019/HSST ngày 03 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2019/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Dƣơng Thị H, sinh ngày 08/10/1971 tại thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Tổ dân phố 7, phường H, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn V và bà Trần Thị Q (đều đã chết); Có chồng: Dương Đình H (đã chết) và 03 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 27/07/2018 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Nam Hà, thành phố Hà Tĩnh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 99/QĐ-UBND bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (nộp tiền phạt ngày 01/8/2018); Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/7/2019 đến nay; Có mặt.

- Ngƣời bào chữa cho bị cáo: Bà Đinh Thị H; Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt

- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Dương Thị N; Sinh năm 1967; Trú tại: Tổ 8, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Vắng mặt

2. Ông Trần Quốc H; Sinh năm 1959; Trú tại: Tổ 13, phường B, thành phố H; Nghề nghiệp: Cắt tóc; Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Thị H có ký kết hợp đồng làm đại lý bán vé xổ số kiến thiết với Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết Hà Tĩnh. Vào khoảng 16h giờ ngày 22/06/2019, Dương Thị H mang một bộ bàn ghế nhựa đặt ở trước khu vực cổng số 3, chợ Hà Tĩnh thuộc phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh để ghi vé xổ số cho khách. Đến khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày, Dương Thị H nộp vé xổ số ghi trong ngày về cho Công ty xổ số Hà Tĩnh và chuẩn bị về thì Trần Quốc H đến nói với H ghi 01 con đề số 33 với giá 10.000 đồng và Dương Thị N đến nói với H ghi 05 điểm lô gồm các số 12, 44, 56, 80, 60 tương ứng 100.000 đồng. Do đã hết thời gian nộp vé xổ số về cho Công ty xổ số Hà Tĩnh nên H (đang có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc) đồng ý đánh bạc bằng hình thức đánh lô đề cùng với Trần Quốc H, Dương Thị N để kiếm tiền tiêu xài cá nhân. H lấy 02 tờ vé xổ số đã cũ không còn sử dụng, dùng chiếc bút bi màu xanh ghi vào mặt sau của 02 tờ vé xổ số số lô đề H, N đánh rồi ký tên xác nhận. Căn cứ để phân định thắng thua là lấy kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng từ 18h15' đến 18h30' của ngày 22/06/2019, hình thức đánh bạc như sau: “Đề” là đánh 02 số cuối cùng của giải đặc biệt, “Lô” là đánh 02 số cuối cùng của tất cả các giải; nếu trúng thường thì người nhận đánh phải trả cho người đánh theo tỷ lệ là “Đề” 1 ăn 70 lần, “Lô” tỉ lệ là 1 ăn 3,5 lần, còn nếu không trúng thưởng thì tiền đánh bạc thuộc về người nhận đánh. Khi Dương Thị H đang giao tờ vé xổ số mặt sau có ghi số lô đề và nhận tiền từ Trần Quốc H, Dương Thị N thì bị Công an phường N, thành phố H phát hiện, lập biên bản, thu giữ 02 tờ vé xổ số mặt sau có ghi số lô đề tại Trần Quốc H, Dương Thị N, thu giữ số tiền 110.000 đồng và 01 chiếc bút bi màu xanh tại Dương Thị H.

Bản cáo trạng số 58/CT-VKSTPHT ngày 28/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Dương Thị H về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh luận tội giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 đến 08 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 16 tháng tính từ ngày tuyên án. Không áp dụng hình phạt bổ sung. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 110.000 đồng thu giữ tại Dương Thị H; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bút bi màu xanh thu giữ tại Dương Thị H; Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 02 tờ vé xổ số mặt sau có ghi số lô đề thu giữ tại Trần Quốc H, Dương Thị Nt.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, người bào chữa cho bị cáo phát biểu: nhất trí với luận tội về tội danh, về mức hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ. Bị cáo không tranh luận bổ sung. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Tĩnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ 50 phút ngày 22/06/2019 tại khu vực trước cổng số 3, chợ Hà Tĩnh thuộc phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, Dương Thị H đánh bạc cùng với Trần Quốc H và Dương Thị N bằng hình thức lô đề tư, cụ thể Dương Thị H nhận đánh 10.000 đồng tiền đề với Trần Quốc H, nhận đánh 100.000 đồng tiền lô với Dương Thị N, tổng số tiền Dương Thị H đánh bạc là 110.000 đồng. Khi Dương Thị H đang giao tờ vé ghi số lô đề cho Trần Quốc H và Dương Thị N thì bị Công an phường N phát hiện, lập biên bản và thu giữ cùng tang vật. Tổng số tiền H, H, t đánh bạc dưới 5.000.000đ nhưng bị cáo Dương Thị H ngày 27/7/2018 đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc mà nay còn vi phạm. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định “Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này, hoặc hành vi quy định tại điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Bị cáo Dương Thị H có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Do đó, hành vi của Dương Thị H đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “thành khẩn khai báo” quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo được chứng nhận thuộc hộ cận nghèo nên cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét trước khi bị xử phạt hành chính (thuộc tình tiết định tội) bị cáo chưa có vi phạm pháp luật gì, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh gia đình thuộc hộ cận nghèo, chồng ung thư chết, hiện đang nuôi 3 con trong đó có 1 con bị thiểu năng trí tuệ nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội chăm sóc nuôi dưỡng các con và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không xử phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: - Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 110.000 đồng bị cáo và các đối tượng Trần Quốc H, Dương Thị N sử dụng để đánh bạc theo quy định tại điểm a, b khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước;

- 01 chiếc bút bi màu xanh bị cáo dùng để viết số lô đề đánh bạc theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy;

- 02 tờ vé xổ số mặt sau có ghi số lô đề thu giữ tại Trần Quốc H, Dương Thị N là chứng cứ chứng minh tội phạm nên tịch thu lưu hồ sơ vụ án.

Xét luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức án là phù hợp.

Đối với Trần Quốc H, Dương Thị N là những người trực tiếp đánh bạc với Dương Thị Hương nhưng tổng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng và không có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc nên Công an thành phố Hà Tĩnh đã ra quyết định xử phạt hành chính là phù hợp.

Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Dƣơng Thị H phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Dƣơng Thị H 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Dương Thị Hương cho Uỷ ban nhân dân phường H, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Về xử lý vật chứng: - Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 110.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bút bi màu xanh thu giữ tại Dương Thị H;

- Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 02 tờ vé xổ số mặt sau có ghi số lô đề thu giữ tại Trần Quốc H, Dương Thị N.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn tiền án phí cho Dương Thị H.

Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ