vanban.org

Bản án 64/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 21/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vy Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vy Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 05 tháng 7 năm 2019. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy chất ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì thư dán kín trong đựng mẫu vật… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vy Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vy Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HỮU LŨNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2019/HS-ST
Ngày 21 - 10 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ninh Ngọc Tú.

Ông Lý Hoàng Anh.

- Thư ký phiên toà: Ông Hứa Văn Nghiệp, Thư ký Toà án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Kim Huyền, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã M, Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm lưu động vụ án hình sự thụ lý số 61/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Vy Văn T, sinh ngày 20/01/1992 tại huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn K, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; dân tộc: Tày; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; con ông Vy Văn S, sinh năm 1964 (đã chết) và con bà Phùng Thị T, sinh năm 1964; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự không có; bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H từ ngày 05 tháng 7 năm 2019 đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Lăng Tiến D, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

2. Anh Vương Văn T1, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn S, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

3. Bà Phùng Thị T, sinh năm 1964. Địa chỉ: Thôn K, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

4. Chị Mã Thị H, sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

5. Anh Lục Văn H, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn N, xã S, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ 45 phút ngày 25/6/2019 tại ngôi nhà hoang thuộc thôn C, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, Công an huyện H bắt quả tang Vy Văn T, sinh năm 1992, trú tại thôn K, xã M, huyện H và Lăng Tiến D, sinh năm 1986, trú tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn và Vương Văn T1, sinh năm 1990, trú tại thôn S, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn có hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy. Thu giữ trên nền nhà gồm 01 chai nhựa màu trắng không nhãn mác, cao 16,5 cm, có nắp nhựa màu đỏ được đục 02 lỗ thủng, trong đó 01 lỗ thủng gắn các đoạn ống hút nhựa liền nhau, 01 lỗ thủng không gắn gì; 01 ống thủy tinh (thường gọi là coóng) màu trắng uốn cong, phần dài nhất 10 cm; phần rộng nhất 3,8 cm, một đầu hình cầu bên trong bám dính chất rắn màu trắng nghi là ma túy; 01 túi ni lông màu trắng miệng kẹp dính, kích thước (1,7 x 2) cm; 01 vỏ hộp giấy màu đỏ, đã cũ; 01 bật lửa ga màu đỏ đã cũ; 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng dài 09 cm có một đầu vót nhọn; 01 đoạn ống kim loại dài 6,5 cm có một đầu gắn đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 1,7 cm. Thu giữ của Vy Văn T 01 ví giả da màu nâu, bên trong có 450.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng, đã cũ, bị vỡ màn hình và phần mặt sau, 05 số cuối số IMEI là 61943; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave α biển kiểm soát 12H1- 170.06, màu xanh, đã cũ. Thu giữ của Lăng Tiến D gồm 01 điện thoại di động nhãn hiêu OPPO màu trắng, đã cũ, 05 số cuối số IMEI là 82792; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION biển kiểm soát 12H1-210.64 màu xanh sẫm, đã cũ. Thu giữ của Vương Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu trắng, đã cũ, bị vỡ màn hình, 05 số cuối số IMEI 1301/3.

Tại 03 phiếu xét nghiệm ma túy ngày 25/6/2019, xác định Vy Văn T, Lăng Tiến D và Vương Văn T1 đều dương tính với Methamphetamine.

Ngày 25/6/2019, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra quyết định trưng cầu giám định số 135 và 136 đối với chất rắn màu trắng bám dính trong coóng thủy tinh thu được và 450.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định số 273/KL-PC09 ngày 28/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận chất rắn màu trắng gửi đi giám định là ma túy Methamphetamine có khối lượng 0,144 gam (đã trừ bì).

Tại bản kết luận giám định số 177/KLGĐ-PC09 ngày 02/7/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận 450.000 đồng gửi đi giám định đều là tiền thật.

Tại cơ quan điều tra, Vy Văn T khai nhận: Vy Văn T là người nghiện ma túy Heroine từ năm 2008, đầu năm 2019 bắt đầu sử dụng ma túy Methamphetamine, tháng 4 năm 2019 Vy Văn T uống Methadone để cai nghiện ma túy. Vy Văn T, Vương Văn T1 và Lăng Tiến D cùng uống Methadone ở Trung tâm y tế huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Sáng ngày 25/6/2019, Vy Văn T đang ở nhà thì Vương Văn T1 gọi điện thoại rủ Vy Văn T góp tiền mua ma túy cùng sử dụng. Sau đó, Lăng Tiến D cũng gọi điện thoại rủ Vy Văn T góp tiền mua ma túy để sử dụng. Vy Văn T đến Trung tâm y tế uống Methadone xong, Vương Văn T1 đưa cho Vy Văn T 150.000 đồng bảo Vy Văn T đi mua ma túy rồi mang về ngôi nhà hoang ở thôn C, xã M để cùng sử dụng. Sau đó, Vy Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave α biển kiểm soát 12H1- 170.06, màu xanh đi đến ngã tư đường Quốc lộ 1A rồi gọi điện thoại cho Lăng Tiến D bảo Lăng Tiến D mang tiền ra. Lăng Tiến D đến nơi và đưa cho Vy Văn T 150.000 đồng. Cầm tiền xong, Vy Văn T một mình điều khiển xe mô tô đến khu vực thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang nhờ một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ, làm nghề lái xe ôm đưa đi mua ma túy. Vy Văn T cùng người đàn ông đến đoạn đường gần cổng chợ thị trấn K, mua 01 túi ni lông miệng kẹp dính, bên trong có ma túy Methamphetamine của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ với giá 300.000 đồng. Mua ma túy xong, Vy Văn T điều khiển xe mô tô quay về gặp Vương Văn T1 tại ngôi nhà hoang ở thôn C, xã M, huyện H. Vy Văn T cùng Vương Văn T1 chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy, Vy Văn T gọi điện thoại cho Lăng Tiến D đến cùng sử dụng ma túy. Đến 09 giờ 45 phút cùng ngày, khi Vy Văn T, Vương Văn T1 và Lăng Tiến D đang cùng nhau sử dụng ma túy thì bị Công an huyện H bắt quả tang.

Về vật chứng, quá trình điều tra làm rõ vật chứng liên quan đến việc phạm tội gồm chất ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 chai nhựa màu trắng không nhãn mác, cao 16,5 cm, có nắp nhựa màu đỏ được đục 02 lỗ thủng, trong đó 01 lỗ thủng gắn các đoạn ống hút nhựa liền nhau, 01 lỗ thủng không gắn gì; 01 ống thủy tinh (thường gọi là coóng) màu trắng uốn cong; 01 túi ni lông màu trắng miệng kẹp dính, kích thước (1,7 x 2) cm; 01 vỏ hộp giấy màu đỏ; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng dài 09 cm có một đầu vót nhọn; 01 đoạn ống kim loại dài 6,5 cm có một đầu gắn đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 1,7 cm; 02 điện thoại di động của Vy Văn T và Lăng Tiến D đã sử dụng để liên lạc trao đổi việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave α biển kiểm soát 12H1-170.06, màu xanh Vy Văn T sử dụng để đi mua ma túy về sử dụng, quá trình điều tra làm rõ chiếc xe trên là tài sản của anh Lục Văn H, sinh năm 1986, trú tại thôn N, xã S, huyện H, là anh rể của Vy Văn T cho Vy Văn T được sử dụng xe. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION biển kiểm soát 12H1-210.64 màu xanh sẫm Lăng Tiến D sử dụng đến địa điểm sử dụng ma túy, quá trình điều tra làm rõ chiếc xe trên là tài sản của chị Mã Thị H, sinh năm 1992, trú tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.

Tài sản, đồ vật không liên quan đến hành vi phạm tội: 01 điện thoại di động của Vương Văn T1; 01 ví giả da màu nâu đã cũ của Vy Văn T; 450.000 đồng là tiền của bà Phùng Thị T, sinh năm 1964, trú tại thôn K, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn là mẹ đẻ của Vy Văn T.

Tại bản cáo trạng số: 64/CT-VKSHL-HS ngày 27 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Vy Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Vy Văn T giữ nguyên lời khai như tại cơ quan điều tra và khẳng định bị cáo bị truy tố, xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đồng thời đánh giá động cơ, mục đích, tác hại của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vy Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điề u 51, các Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự. Xử bị cáo Vy Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy chất ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì thư dán kín trong đựng mẫu vật hoàn trả sau giám định, bên ngoài cõ chữ ký cùng tên của giám định viên, cán bộ giám định và hình con dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn; 01 chai nhựa màu trắng không nhãn mác, cao 16,5 cm, có nắp nhựa màu đỏ được đục 02 lỗ thủng, trong đó 01 lỗ thủng gắn các đoạn ống hút nhựa liền nhau, 01 lỗ thủng không gắn gì; 01 ống thủy tinh (thường gọi là coóng) màu trắng uốn cong; 01 túi ni lông màu trắng miệng kẹp dính, kích thước (1,7 x 2) cm; 01 vỏ hộp giấy màu đỏ đã cũ; 01 bật lửa ga màu đỏ đã cũ; 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng dài 09 cm một đầu vót nhọn; 01 đoạn ống kim loại dài 6,5 cm, có một đầu gắn đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 1,7 cm.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước của bị cáo Vy Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã cũ, bị vỡ màn hình và phần mặt sau, số IMEI 05 số cuối: 61934, anh Lăng Tiến D 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng, đã cũ, số IMEI 05 số cuối: 82792.

Trả lại cho bị cáo Vy Văn T 01 ví giả da màu nâu đã cũ; anh Vương Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng, đã cũ, bị vỡ màn hình, số IMEI 05 số cuối: 1301/3.

Trả lại cho anh Lục Văn H 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave α, màu xanh, đã cũ, biển kiểm soát 12H1- 170.06, số khung: RLHHC1218DY640244, số máy: HC12E5640286; chị Mã Thị H 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Vision, màu xanh, đã cũ, biển kiểm soát 12H1-210.61, số khung: 580XEY527489, số máy: JP58E0412854.

Trả lại cho bà Phùng Thị T số tiền 450.000 đồng.

Phần tranh luận: Không ai có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo Vy Văn T xin được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Vương Văn T1, anh Lục Văn H không có lí do, nhưng không ai yêu cầu hoãn phiên tòa, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến phiên tòa hôm nay nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Vy Văn T đã khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan điều tra, lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Hồi 09 giờ 45 phút ngày 25/6/2019, tại thôn C, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, Công an huyện H bắt quả tang Vy Văn T, Vương Văn T1 và Lăng Tiến D đang sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ 0,144 gam ma túy Methamphetamine (đã trừ bì). Số ma túy trên là của Vy Văn T mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang với giá 300.000 đồng mục đích sử dụng cùng Vương Văn T1 và Lăng Tiến D. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Vy Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Vy Văn T là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo Vy Văn T là nghiêm trọng, có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được tác hại của ma túy đối với bản thân bị cáo và đối với mọi mặt của đời sống xã hội, các bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng do muốn thỏa mãn nhu cầu bản thân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm trước pháp luật để răn đe giáo dục cho chính bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt.

Về nhân thân: Bị cáo Vy Văn T không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu vì là người sử dụng trái phép chất ma túy.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Vy Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét xét thấy để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội, cần thiết phải cách ly bị cáo Vy Văn T ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Vy Văn T thuộc diện hộ nghèo của xã M, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với người bán ma túy cho Vy Văn T, bị cáo khai không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, không có cơ sở điều tra làm rõ nên không đề cập xem xét.

Đối với Vương Văn T1 và Lăng Tiến D quá trình điều tra không thừa nhận việc được góp tiền cho Vy Văn T đi mua ma túy cùng sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành đối chất, kiểm tra điện thoại của Vy Văn T, Vương Văn T1 và Lăng Tiến D nhưng không có cơ sở để điều tra làm rõ. Ngày 28/8/2019, Công an huyện H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính các số 200, 201 đối với Lăng Tiến D và Vương Văn T1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp quy định pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Cần tịch thu tiêu hủy chất ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì thư dán kín trong đựng mẫu vật hoàn trả sau giám định, bên ngoài cõ chữ ký cùng tên của giám định viên, cán bộ giám định và hình con dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn; 01 chai nhựa màu trắng không nhãn mác, cao 16,5 cm, có nắp nhựa màu đỏ được đục 02 lỗ thủng, trong đó 01 lỗ thủng gắn các đoạn ống hút nhựa liền nhau, 01 lỗ thủng không gắn gì; 01 ống thủy tinh (thường gọi là coóng) màu trắng uốn cong; 01 túi ni lông màu trắng miệng kẹp dính, kích thước (1,7 x 2) cm; 01 vỏ hộp giấy màu đỏ đã cũ; 01 bật lửa ga màu đỏ đã cũ; 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng dài 09 cm một đầu vót nhọn; 01 đoạn ống kim loại dài 6,5 cm, có một đầu gắn đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 1,7 cm do liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng. Tịch thu sung ngân sách nhà nước của bị cáo Vy Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã cũ, bị vỡ màn hình và phần mặt sau, số IMEI 05 số cuối: 61934, anh Lăng Tiến D 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng, đã cũ, số IMEI 05 số cuối: 82792 do có liên quan đến việc phạm tội. Trả lại cho bị cáo Vy Văn T 01 ví giả da màu nâu đã cũ; anh Vương Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng, đã cũ, bị vỡ màn hình, số IMEI 05 số cuối: 1301/3; anh Lục Văn H 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave α, màu xanh, đã cũ, biển kiểm soát 12H1- 170.06, số khung: RLHHC1218DY640244, số máy: HC12E5640286; chị Mã Thị H 01xe mô tô nhãn hiệu HONDA Vision, màu xanh, đã cũ, biển kiểm soát 12H1-210.61, số khung: 580XEY527489, số máy: JP58E0412854; bà Phùng Thị T số tiền 450.000 đồng, trong 01 phong bì thư dán kín đã được niêm phong, ký tên đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn do các tài sản không liên quan đến việc phạm tội như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo Vy Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điề u 51, các Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vy Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vy Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 05 tháng 7 năm 2019.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy chất ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì thư dán kín trong đựng mẫu vật hoàn trả sau giám định, bên ngoài cõ chữ ký cùng tên của giám định viên, cán bộ giám định và hình con dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn; 01 chai nhựa màu trắng không nhãn mác, cao 16,5 cm, có nắp nhựa màu đỏ được đục 02 lỗ thủng, trong đó 01 lỗ thủng gắn các đoạn ống hút nhựa liền nhau, 01 lỗ thủng không gắn gì; 01 ống thủy tinh (thường gọi là coóng) màu trắng uốn cong; 01 túi ni lông màu trắng miệng kẹp dính, kích thước (1,7 x 2) cm; 01 vỏ hộp giấy màu đỏ đã cũ; 01 bật lửa ga màu đỏ đã cũ; 01 đoạn ống hút nhựa màu hồng dài 09 cm một đầu vót nhọn; 01 đoạn ống kim loại dài 6,5 cm, có một đầu gắn đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 1,7 cm.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước của bị cáo Vy Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã cũ, bị vỡ màn hình và phần mặt sau, số IMEI 05 số cuối: 61934, anh Lăng Tiến D 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng, đã cũ, số IMEI 05 số cuối: 82792.

Trả lại cho bị cáo Vy Văn T 01 ví giả da màu nâu đã cũ; trả lại anh Vương Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu trắng, đã cũ, bị vỡ màn hình, số IMEI 05 số cuối: 1301/3; anh Lục Văn H 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave α, màu xanh, đã cũ, biển kiểm soát 12H1- 170.06, số khung: RLHHC1218DY640244, số máy: HC12E5640286; chị Mã Thị H 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Vision, màu xanh, đã cũ, biển kiểm soát 12H1-210.61, số khung: 580XEY527489, số máy: JP58E0412854; bà Phùng Thị T số tiền 450.000 đồng, trong 01 phong bì thư dán kín đã được niêm phong, ký tên đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn.

(Theo biên bản giao nhận tài sản số: 01/BBBG-KBHL ngày 02 tháng 10 năm 2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H và Kho bạc nhà nước huyện H; biên bản giao nhận vật chứng ngày 02 tháng 10 năm 2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện H).

Về án phí: Bị cáo Vy Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách nhà nước.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ