vanban.org

Bản án 64/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Phú Yên Tuyên án 09/09/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/09/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm;

Tuyên bố: Bị cáo Rơ Ô H phạm tội “Hủy hoại rừng”. Phạt: Bị cáo Rơ Ô H – 03 (Ba) năm tù, thời hạn tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Rơ Ô H - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2019/HS-PT
Ngày: 09/9/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;

Các thẩm phán: Ông Lê Quốc Ly và ông Lê Ngọc Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Nin – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Tám – Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 09 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 48/2019/TLPT-HS ngày 02 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo Rơ Ô H do có kháng cáo của bị cáo Rơ Ô H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 08/2019/HS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Bị cáo có kháng cáo: Rơ Ô H (tên gọi khác: Ma Tiểu Lạc), sinh năm 1991; tại tỉnh Gia Lai; nơi cư trú: B S, xã C N, huyện K P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: Jarai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ksor T, sinh năm 1970 và bà Rơ Ô H Đ, sinh năm 1968 (chết); có vợ Ksor H B, sinh năm 1990 và có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Người bào chữa của bị cáo Rơ Ô H do Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Yên cử: Ông Lương Văn Trương – Trợ giúp viên; nhưng bị cáo từ chối người bào chữa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2016 đến tháng 6/2017, Rơ Ô H điều khiển xe mô tô biển số 78V1-2761 đến khu vực rừng đặc dụng thuộc khoảnh 11, tiểu khu 199, xa Eachà Rang, huyện Sơn Hòa dùng rựa phát dọn dây leo và chặt hạ những cây có đường kính nhỏ, dùng cưa lốc cắt hạ những cây có đường kính lớn với tổng diện tích 12.000m2nhằm mục đích lấy đất sản xuất. Sau khi chặt hạ một thời gian, H đốt, dọn và trồng lúa thì bị Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Krông Trai phát hiện, tổ chức khám nghiệm hiện trường, tạm giữ vật chứng, khởi tố vụ án hình sự và chuyển Cơ quan Công an huyện Sơn Hòa điều tra theo thẩm quyền.

Kết luận Giám định tư pháp số 23/KLGĐ-CCKL ngày 10/01/2018 của Chi cục kiểm lâm tỉnh Phú Yên xác định: Diện tích 12.000m2rừng tại khoảnh 11, tiểu khu 199, xa Eachà Rang, huyện Sơn Hòa; chức năng rừng đặc dụng, trạng thái rừng nghèo, trữ lưỡng rừng/ha: 29.593m3; gỗ 19.530m3 (phẩm chất C); củi 1.8 ster.

Kết luận Định giá tài sản số 29/KL-ĐGTS ngày 19/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản xác định: Thiệt hại về lâm sản và môi trường với tổng giá trị 100.388.232đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số08/2019/HSST ngày 28/03/2019 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa đã tuyên Rơ Ô H phạm tội “Hủy hoại rừng”. Áp dụngđiểm d khoản 3 Điều 243; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 54Bộ luật Hình sự năm 2015; phạtRơ Ô H – 03 (Ba) năm tù, thời hạn tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/3/2019, bị cáo Rơ Ô H kháng cáo xin giảm hưởng án treo.

Tại phiên tòa, bị cáo Rơ Ô H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.

Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 – Không chấp nhận kháng cáo; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trước khi mở phiên tòa, bị cáo Rơ Ô H có đơn từ chối người bào chữa; và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo tiếp tục khẳng định từ chối người bào chữa, nên căn cứ vào Điều 77 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

Lời khai nhận tội của bị cáo Rơ Ô H tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm điều phù hợp với nhau; phù hợp với biên bản khám nghiệm, bản ảnh hiện trường; kết luận giám định, kết quả định giá, cùng các tài liệu là chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: Để có đất làm rẫy, từ tháng 10/2016 đến tháng 6/2017, Rơ Ô H đến khoảnh 11, tiểu khu 199, xã Eachà Rang, huyện Sơn Hòa dùng rựa, cưa lốc chặt phá trái phép 12.000m2 rừng đặc dụng, gây thiệt hại về lâm sản và môi trường có tổng giá trị 100.388.232 đồng. Do đó, cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo Rơ Ô H phạm tội “Hủy hoại rừng” theo điểm d khoản 3 Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng tội.

Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, mà còn xâm hại đến sự ổn định và bền vững của môi trường sinh thái, nên cần xử lý nghiêm. Khi lượng hình, án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, đồng thời áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 để phạt bị cáo 03 (Ba) năm tù, không cho bị cáo hưởng án treo, là đáp ứng được yêu cầu phòng chống tội phạm tại địa phương và đã có cân nhắc trong quyết định hình phạt. Do đó, bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo là không có cơ sở nên không chấp nhận; mà chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt để có đủ thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo.

Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm;

Tuyên bố: Bị cáo Rơ Ô H phạm tội “Hủy hoại rừng”.

Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 243; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Phạt: Bị cáo Rơ Ô H – 03 (Ba) năm tù, thời hạn tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức, thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo Rơ Ô H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ