| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2019/HS-PT Ngày: 28-3-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Thạch;
Các Thẩm phán:
Ông Trần Văn Luông;
Ông Nguyễn Huỳnh Đức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2019 tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử v án hình sự phúc thẩm th lý số: 48/2019/TLPT-HS ngày 22 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo Mai Bảo H. Do có kháng cáo của bị cáo Mai Bảo H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân thị xã B tỉnh Bình Dương.
Bị cáo kháng cáo: Mai Bảo H sinh năm 199 tại tỉnh Thanh Hóa. H khẩu thư ng trú: Không nơi cư trú nh t định ch hi n nay: Khu phố phư ng C thị xã B tỉnh Bình Dương nghề nghi p: Không trình đ học v n: 6/12; dân t c: Kinh giới tính: Nam tôn giáo: Không quốc tịch: Vi t Nam con ông Nguyễn Văn C và bà Mai Thị H; vợ là Đ Thị Thu Y; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ tạm giam từ ngày 21/3/2018 cho đến nay có mặt.
Người tham gia tố tụng khác được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa: Nguyễn Văn T sinh ngày 19 9 tại tỉnh An Giang. H khẩu thư ng trú: Khu dân cư số 4 khóm L phư ng L thị xã T tỉnh A ch hi n nay: Khu phố phư ng C, thị xã B tỉnh Bình Dương (là bị cáo không có kháng cáo) có mặt.
Trong v án còn có 04 ngư i có quyền lợi nghĩa v liên quan không kháng cáo không bị kháng nghị nên Tòa án không tri u tập tham gia phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài li u có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa n i dung v án được tóm tắt như sau:
Lúc 15 gi 30 phút ngày 21/3/2018 Công an thị xã B phối hợp với Công an phư ng T tuần tra phát hi n Trần Thoại L (sinh năm 2002) có biểu hi n nghi v n nên tiến hành kiểm tra hành chính thì phát hi n 01 túi nilong mi ng keo dính bên trong có chứa ch t màu trắng dạng tinh thể nằm trong gói thuốc lá hi u Hòa Bình để trong túi quần bên trái phía trước L đang mặc lực lượng công an tiến hành thu giữ và m i L về cơ quan làm vi c.
Quá trình làm vi c L khai nhận: L bắt đầu sử d ng ma túy từ giữa năm 201 nguồn ma túy do L mua của Mai Bảo H và Nguyễn Văn T. Lúc 08 gi 00 phút ngày 21/3/2018, L mua của H 500.000 đồng ma túy đá và thế ch p bằng 01 đi n thoại di d ng hi u Sony Xperia màu đen của L. Sau khi có ma túy, L l y sử d ng m t phần phần còn lại L bỏ vào gói thuốc lá hi u Hòa Bình để trong túi quần bên trái đang mặc. Đến 15 gi 30 phút cùng ngày thì bị công an kiểm tra và phát hi n.
Cùng ngày 21/3/2018 Công an thị xã B tiến hành khám xét khẩn c p ch của Mai Bảo H tại nhà trọ Q thu c đư ng N khu phố phư ng C thị xã B, tỉnh Bình Dương thu giữ:
01 túi nilong mi ng kéo dính bên trong có 02 túi nilong hàn kín 02 đầu có chứa màu trắng dạng tinh thể.
01 c c được qu n bên ngoài bằng khẩu trang ý tế bên trong có 01 túi nilong hàn kín 02 đầu chứa ch t màu trắng dạng tinh thể.
Nguyên Văn T khai nhận số vật chứng thu giữ là ma túy đá, mua của đối tượng tên T (không rõ nhân thân lai lịch) về để cùng Mai Bảo H sử d ng và bán lại cho các đối tượng nghi n.
Quá trình điều tra xác định vào tháng 02/2018 Nguyễn Văn T và Mai Bảo H quen biết nhau do cùng làm thợ sơn nước. T và H thỏa thuận: H và vợ của H là Đ Thị Thu Y (sinh ngày 13/3/1998) đến chung với T tại ki ốt không số thu c đư ng N khu phố phư ng C thị xã B tỉnh Bình Dương. M i tháng T trả cho H 6.000.000 đồng/tháng và chi phí ăn H giúp T bán ma túy. Vi c T và H thỏa thuận mua bán ma túy Y không biết.
Nguyễn Văn T khai: T mua ma túy của T (không rõ nhân thân lai lịch) khu vực cầu vượt B quận T Thành phố Hồ Chí Minh tổng c ng 02 lần. Lần thứ nh t vào ngày 11/3/2018, T mua ma túy với số tiền 2.300.000 đồng. Lần thứ hai vào ngày 17/3/2018, T mua ma túy với số tiền 6.300.000 đồng. Sau khi mua về T chia cho H đem bán ma túy cho các đối tượng nghi n phần còn lại T để sử d ng. Trong th i gian từ tháng 02/2018 đến ngày 21/3/2018 T và H đã bán ma túy nhiều lần bán cho nhiều đối tượng nhưng hi n tại chỉ nhớ bán cho hai ngư i c thể:
T và H bán cho Nguyễn Thanh H1 (sinh năm 1995) 03 lần: Lần thứ nh t: Ngày 16/3/2018 H1 mua của T 300.000 đồng ma túy và H đem ma túy đến phòng trọ của H1 để giao cho H1. Lần thứ hai: Ngày 19/3/2018 H1 đến phòng trọ của T mua 200.000 đồng ma túy đá. Lần thứ ba: Ngày 21/3/2018 H1 mua của T 300.000 đồng ma túy và H đem ma túy đến phòng trọ của H1 để giao cho H1.
T và H bán cho Trần Thoại L (sinh năm 2002) 02 lần: Lần thứ nh t: Ngày 17/3/2018, L mua của H 300.000 đồng ma túy đá nhưng mua thiếu và H đem ma túy đến phòng trọ của L để giao cho L. Lần thứ hai: Ngày 21/3/2018 L mua của H 500.000 đồng ma túy đá và thế ch p bằng 01 đi n thoại di đ ng hi u Sony Xperia màu đen của L. Sau đó H đem ma túy đến phòng trọ của L để giao cho L.
H sử d ng xe môtô hi u wave biển số 66H1-2140 để đi giao ma túy cho các đối tượng mua ma túy.
Tại Kết luận giám định số 1 3/MT-PC54 ngày 2 /3/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy có trọng lượng 0 8859 gam (M1) 0 366 gam (M2) 18 53 2 gam (M3) loại methamphetamine. Hoàn lại đối tượng sau giám định được niêm phong trọng lượng 0 6905 gam (M1) 0 2494 gam (M2) 1 358 gam (M3).
Đối với Trần Thoại L có hành vi tàng trữ trái phép ch t ma túy với trọng lượng 0 8859 gam loại methamphetamine. Tuy nhiên theo bản Kết luận giám định pháp y về đ tuổi số 312 /C54B ngày 31/ /2018 của Phân vi n Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Trần Thoại L có đ tuổi từ 15 năm 10 tháng đến 16 năm 04 tháng. Vì vậy L không đủ tuổi chịu trách nhi m hình sự. Ngày 02/10/2018 Công an thị xã B ra Quyết định số 144/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Thoại L về hành vi tàng trữ trái phép ch t ma túy với hình thức cảnh cáo.
Đối với Nguyễn Thanh H1 có hành vi mua ma túy sử d ng ngày 29/5/2018, Tòa án nhân dân thị xã B ra Quyết định số 13/QĐ-TA áp d ng bi n pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghi n bắt bu c th i hạn 14 tháng.
Đối với Đ Thị Thu Y, Y không biết T và H thỏa thuận mua bán ma túy. T mua cho vợ của H 01 chiếc nhẫn và H đã đưa cho Y. Tiền dùng để mua nhẫn là do mua bán trái phép ch t ma túy mà có Y không biết nên Y đã đem bán nhẫn và tiêu xài hết tiền.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Mai Bảo H phạm t i “Mua bán trái phép ch t ma túy”.
Áp d ng các điểm b c e và i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của B luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 201 .
Xử phạt: Bị cáo Mai Bảo H 11 (mư i m t) năm 06 (sáu) tháng tù. Th i hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày 21/3/2018.
Bản án sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn T 12 (mư i hai) năm 06 (sáu) tháng tù về t i “Mua bán trái phép ch t ma túy” tuyên về xử lý vật chứng án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 18/01/2018 bị cáo Mai Bảo H làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại di n Vi n Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết v án: Xác định t i danh điều luật mà Tòa án c p sơ thẩm xét xử và áp d ng đối với bị cáo Mai Bảo H là có căn cứ đúng ngư i đúng t i. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng tại Tòa án c p phúc thẩm bị cáo không cung c p thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự nào mới. Mức hình phạt mà Tòa án c p sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là phù hợp với tính ch t mức đ hành vi phạm t i và nhân thân của bị cáo. Do đó đề nghị H i đồng xét xử không ch p nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo Mai Bảo H nói l i sau cùng: Bị cáo mong H i đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s n i dung v án căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa H i đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Mai Bảo H được thực hi n trong th i hạn luật định nên đủ điều ki n để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết v án theo thủ t c phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Mai Bảo H đã khai nhận hành vi phạm t i thống nh t như n i dung bản án sơ thẩm và các tài li u chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó có đủ cơ s xác định: Trong th i gian từ tháng 02/2018 đến ngày 22/3/2018 các bị cáo Nguyễn Văn T và Mai Bảo H đã bán ma túy cho Nguyễn Thanh H1 03 lần Trần Thoại L 02 lần. Tại th i điểm bán ma túy cho Trần Thoại L thì L chưa đủ 16 tuổi. Tổng khối lượng Nguyễn Văn T và Mai Bảo H bán là 19 898 gam ma túy (loại methamphetamin) trọng lượng sau giám định là 18,6757 gam. Hành vi bị cáo H thực hi n đã đủ yếu tố c u thành t i “Mua bán trái phép ch t ma túy” được quy định tại các điểm b c e và i khoản 2 Điều 251 của B luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 201 với các tình tiết định khung: Bán ma túy cho nhiều ngư i bán ma túy nhiều lần bán ma túy cho ngư i dưới 16 tuổi và bán với khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam.
[3] Hành vi của bị cáo H là r t nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã h i trực tiếp xâm phạm đến chế đ quản lý các ch t gây nghi n của nhà nước. Về nhận thức bị cáo H biết ma túy (methamphetamin) là ch t gây nghi n nguy hiểm do nhà nước đ c quyền và thống nh t quản lý hành vi mua bán trái phép ch t ma túy của bị cáo đe dọa nghiêm trọng đến an toàn trật tự công c ng sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của xã h i là m t trong những nguyên nhân làm phát sinh các t i phạm hình sự khác. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vì đ ng cơ tham lam tư lợi mà bị cáo đã b t ch p pháp luật cố ý thực hi n hành vi phạm t i. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhi m hình sự về hành vi phạm t i của mình theo quy định của pháp luật.
Vì vậy Tòa án c p sơ thẩm xét xử bị cáo Mai Bảo H về t i “Mua bán trái phép ch t ma túy” theo quy định tại các điểm b c e và i khoản 2 Điều 251 của B luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 201 là có căn cứ đúng ngư i đúng t i và đúng pháp luật.
[4] Bị cáo Mai Bảo H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng tại Tòa án c p phúc thẩm bị cáo H không cung c p thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự nào mới. Bị cáo phạm t i với 04 tình tiết định khung tăng nặng nên xét th y mức hình phạt mà Tòa án c p sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo H là phù hợp với tính ch t mức đ hành vi phạm t i của bị cáo. Đồng th i, Tòa án c p sơ thẩm cũng đã xem xét áp d ng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự cho bị cáo. Do đó kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt là không có cơ s ch p nhận.
[5] Đại di n Vi n Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị không ch p nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
[6] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hi u lực pháp luật kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo kháng nghị.
[7] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo H phải n p do yêu cầu kháng cáo không được ch p nhận.
Vì các lẽ trên
QUYẾT Đ NH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của B luật Tố t ng hình sự năm 2015
1. Không ch p nhận kháng cáo của bị cáo Mai Bảo H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2019/HS-ST ngày 17/01/2019 của Tòa án nhân dân thị xã B tỉnh Bình Dương.
Áp d ng các điểm b c e và i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của B luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 201
Xử phạt: Bị cáo Mai Bảo H 11 (mư i m t) năm 06 (sáu) tháng tù về t i “Mua bán trái phép ch t ma túy”. Th i hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày 21/3/2018.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp d ng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng v Quốc h i quy định về mức thu miễn giảm thu n p quản lý và sử d ng án phí và l phí Tòa án: Bị cáo Mai Bảo H phải n p số tiền 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hi u lực pháp luật kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hi u lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương 1 - TAND thị xã B; 2 - VKSND thị xã B; 1 - Chi c c THADS thị xã B; 1 - Phòng PV06 - Công an tỉnh BD 1 - Công an thị xã B; 1 - S Tư pháp tỉnh Bình Dương 1 1 - Trại Tạm giam – Công an tỉnh BD - Bị cáo 1 - Tổ Hành chính Tư pháp 2 - Lưu: HSVA, Tòa HS. 2 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Ngọc Thạch |