vanban.org

Bản án 64/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh K; chị T được ly hôn với anh K.

2- Về con chung: Giao B, sinh ngày 28/10/2004 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trường hợp chị T vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con thì anh K có quyền yêu cầu t…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và nuôi con"
  • Tòa quyết gì? 1- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh K; chị T được ly hôn với anh K.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 64/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 11-11-2019
Về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Trường Hận.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Công Đời.

2. Bà Quách Thị Thu Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Quảng Thị Kiều Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Trang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 11 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 200/2019/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2019 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/10/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30/10/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị T, sinh năm 1979; địa chỉ: ấp S, thị trấn S, huyện S, tỉnh An Giang (có mặt).

2. Bị đơn: Anh K, sinh năm 1985; địa chỉ: khu phố 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt lần 02 không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị T trình bày: Chị T và anh K cưới nhau tháng 10/2003, đến ngày 05/10/2009 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện S, tỉnh An Giang. Anh chị có một người con chung là B, sinh ngày 28/10/2004. Trong thời gian sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, không hợp nhau, thường xuyên cự cải, cuộc sống không hạnh phúc nên tháng 01/2019 đã sống ly thân cho đến nay. Chị T yêu cầu ly hôn với anh K, yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng. Chị T khai không có tài sản và nợ chung.

* Bị đơn là anh K vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.

* Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình và chấp hành nội quy phiên tòa. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T; đồng thời giao cháu B cho chị T nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị T có yêu cầu ly hôn nên Tòa án thụ lý đơn giải quyết theo khoản 1 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình. Tòa án đã tổ chức hòa giải nhưng anh K vắng mặt nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với anh K để tham gia phiên tòa nhưng anh K vắng mặt phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh K.

Chị T yêu cầu ly hôn và yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu giải quyết các vấn đề khác nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa chị T và anh K là “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”.

Về nội dung vụ án: Tháng 10/2003 chị T và anh K sống chung, đến ngày 05/10/2009 anh chị đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị hợp pháp kể từ ngày đăng ký. Trong quá trình chung sống, chị T và anh K xảy ra mâu thuẫn; theo chị T là do bất đồng ý kiến, thường xuyên cự cải, cuộc sống không hạnh phúc nên anh chị sống ly thân từ tháng 01/2019. Anh K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để hòa giải và xét xử, nhưng anh K đều vắng mặt không lý do. Việc anh K cố tình vắng mặt là đã tự đánh mất cơ hội được hòa giải hàn gắn và trình bày ý kiến để được xem xét.

Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị T và anh K đã kéo dài, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc; hiện nay anh chị không sống chung với nhau, mỗi người một nơi; mục đích hôn nhân không đạt được; anh K không có thiện chí hàn gắn nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.

Về con chung: Chị T và anh K có một người con chung là B, sinh ngày 28/10/2004, giới tính nam, đang sống chung với chị T và có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với chị T. Chị T yêu cầu được quyền nuôi con, anh K không thể hiện ý kiến của mình.

Xét thấy, hiện nay anh K đi làm, không thường xuyên có mặt ở địa phương, không có điều kiện chăm sóc con. Từ trước đến nay cháu B được chị T nuôi dưỡng; hiện nay cháu B có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với chị T, chị T cũng có điều kiện nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu B cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng. Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định. Trường hợp chị T vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện nuôi con thì anh K có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng khi ly hôn: Chị T và anh K không ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản và nợ chung: Chị T trình bày không có tài sản và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh K không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xét; nếu phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết trong vụ án khác.

[6] Về án phí sơ thẩm: Chị T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 6, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 147, 207, 227, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 6, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh K; chị T được ly hôn với anh K.

2- Về con chung: Giao B, sinh ngày 28/10/2004 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trường hợp chị T vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con thì anh K có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3- Án phí sơ thẩm: Chị T chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006164 ngày 26/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.

4- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ