vanban.org

Bản án 64/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 11/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Ngọc D 03 (Ba) năm 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22 tháng 12 năm 2017. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN B THÀNH PHỐ
HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2018/HSST
Ngày 11 tháng 5 năm 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Tuyết Thu

2. Bà Lương Thị Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Lan

Thư ký Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B tham gia phiên tòa:

Ông Trần Quang Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2018, tại trụ Tòa án nhân dân quân Ba Đình. Tòa án nhân dân quận B, thành phố Hà Nội đưa ra xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2018/TL - HSST ngày 19 tháng 4 năm 2018 đối với:

Bị cáo Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1980; Đăng ký hộ khẩu: số 34, phố K, phường K, quận B, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: số 5, ngách 21, ngõ 255 C, phường Dịch Vọng, quận C, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Nguyễn Mạnh Hiền (Sinh năm: 1933); Họ và tên mẹ: Trần Thị Thi (Sinh năm: 1943); Gia đình có 5 anh chị em, bị cáo là con thứ 5. Tiền án, tiền sự: có hai tiền án. Ngày 22/09/2003 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” xử phạt 07 năm tù. Ra trại ngày 01/09/2008; Ngày 03/02/2015 Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” xử phạt 30 tháng tù. Ra trại ngày 16/10/2016; Bị bắt quả tang ngày 22/12/2017. Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Nguyễn Anh T, sinh năm 1972; Nơi cư trú: số 6, ngõ 204 phố Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận B, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Nguyễn Ngọc D bị Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố Hà Nội truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 9 giờ 00 phút, ngày 22/12/2017, Nguyễn Ngọc D đi xe máy đến khu vực Bến xe buýt cạnh trường Đại học Giao thông vận tải, thuộc phường Ngọc Khánh, quận B, thành phố Hà Nội mua của một người đàn ông 5 gói Heroine với giá 500.000 đồng. Sau đó, D mang Heroine về nhà, chia thành 10 gói nhỏ và sử dụng hết 7 gói. Khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, D điều khiển xe máy BKS: 29C1 – 46.760 mang 3 gói Heroine có tổng trọng lượng 0,328 gam đi bán cho người đàn ông tên Tiến với giá 300.000 đồng tại ngõ 9, phố Đào Tấn, phường Ngọc Khánh, nhưng chưa kịp bán thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an quận B phát hiện, bắt quả tang và thu giữ số ma túy trên.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận hành nhiều lần bán ma túy cho Tiến.

Kết luận giám định số: 200/KLGĐ - PC54 ngày 09 tháng 01 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Chất bột mầu trắng bên trong 02 gói giấy mầu xanh và 01 gói giấy mầu trắng đều là ma túy loại Heroine, tổng trọng lượng 0,328 gam”.

Cáo trạng số: 62/CT-VKS ngày 12 tháng 4 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét nhân thân bị cáo có 02 tiền án, trong đó một tiền án ngày 03/02/2015 Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” xử phạt 30 tháng tù. Ra trại ngày 16/10/2016 chưa được xóa án tích, thái độ khai báo không thành khẩn,

Đề nghị về hình phạt: Áp dụng Khoản 1, Khoản 5 Điều 251; Điều 38; Điểm h, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo mức án từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong là ma túy đã qua giám định; 01 ví giả da mầu đen đã cũ. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 5 màu trắng đã cũ không rõ chất lượng bên trong và 380.000 (Ba trăm tám mươi nghìn) đồng.

Đối tượng bán ma túy cho bị cáo, đối tượng tên Tiến Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không làm rõ được lai lịch cụ thể nên không có cơ sở để xử lý.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Quá trình điều tra, truy tố liên quan đến đến việc giải quyết vụ án (Về hành vi, các quyết định tố tụng), Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015;

[2] Nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ diễn biến vụ án đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 9 giờ 00 phút, ngày 22/12/2017, bị cáo đi xe máy BKS: 29C1 – 46.760 từ nhà đến khu vực Bến xe buýt cạnh trường Đại học Giao thông vận tải, phường Ngọc Khánh. Tại đây, bị cáo gặp và mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, cao 1,7m (không biết tên, địa chỉ cụ thể) 05 gói Heroine giá 500.000 đồng. Mua xong, bị cáo mang số ma túy trên về nhà tại địa chỉ số 5, ngách 21, ngõ 255 C và chia thành 10 gói nhỏ mục đích để sử dụng và bán cho đối tượng nghiện để kiếm lời. Sau đó, bị cáo sử dụng hết 07 gói ma túy tại nhà. Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 22/12/2017, khi bị cáo đang ở nhà thì có người đàn ông tên Tiến gọi điện thoại cho bị cáo hỏi mua 03 gói Heroine với giá 300.000 đồng. Bị cáo đồng ý và hẹn Tiến giao ma túy tại ngõ 9 Đào Tấn, phường Ngọc Khánh. Khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, bị cáo mang 03 gói Heroine rồi đi xe máy BKS: 29C1 – 46.760 đến khu vực ngõ 9 Đào Tấn để bán ma túy cho Tiến. Tuy nhiên, bị cáo chưa kịp bán ma túy thì bị Đội điều tra tội phạm về ma túy – Công an quận B kiểm tra, phát hiện thu giữ 02 gói Heroine màu xanh và 01 gói Heroine màu trắng, bọc ngoài bằng nilon trắng, để trong gói giấy màu trắng có tổng trọng lượng là 0,328 gam tại túi bên trái áo khoác ngoài của bị cáo. Ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh việc bị cáo đã 4 lần bán ma túy cho Tiến như nội dung của Bản kết luận điều tra vụ án hình sự số 59 ngày 20 tháng 3 năm 2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, nên không đủ cơ sở để kết luận, xử lý đối với bị cáo về hành vi mua bán nhiều lần theo khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa chỉ bán ma túy một lần cho Tiến nhưng chưa bán được thì bị bắt là không phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra. Những nội dung về thời gian, địa điểm, đặc điểm, trọng lượng và các đồ vật bị thu giữ khi bán ma túy là phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Xét nhân thân bị cáo có 02 tiền án: Ngày 22/09/2003 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt 07 năm tù. Ra trại ngày 01/09/2008 tiền án này đã được xóa án tích; Ngày 03/02/2015 Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt 30 tháng tù. Ra trại ngày 16/10/2016 tiền án này chưa được xóa án tích. Do vậy lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm về cùng loại tội về Ma túy, phải áp dụng Điểm h, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 để áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Khi xem xét quyết định mức hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thái độ của bị cáo tại phiên tòa không thành khẩn khai báo, thay đổi lời khai trong quá trình điều tra không thành khẩn với hành vi phạm tội của mình. Nên không được áp dụng Điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Xử lý vật chứng:

Tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có ma túy đã qua giám định và 01 ví giả da mầu đen đã cũ. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 5 màu trắng đã cũ không rõ chất lượng bên trong, theo biên bản giao vật chứng số: 80 ngày 17 tháng 4 năm 2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, thành phố Hà Nội và 380.000 (Ba trăm tám mươi nghìn) đồng theo giấy nộp tiền vào tài khoản số 39491061691 tại kho bạc Nhà nước quận B ngày 17 tháng 4 năm 2018 là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối tượng bán ma túy cho bị cáo, đối tượng tên Tiến cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không làm rõ được lai lịch cụ thể nên không có cơ sở để xử lý.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố Bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng Khoản 1, Khoản 5 Điều 251; Điều 38; Điều 47; Điểm h, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015; các Điều 106; 136; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử phạt: Nguyễn Ngọc D 03 (Ba) năm 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22 tháng 12 năm 2017.

Xử lý vật chứng:

Tịch thu và tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có ma túy đã qua giám định có chữ ký của cán bộ giám định và đối tượng và 01 ví giả da mầu đen đã cũ. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 5 màu trắng đã cũ không rõ chất lượng bên trong, theo biên bản giao vật chứng số: 80 ngày 17 tháng 4 năm 2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, thành phố Hà Nội và 380.000 (Ba trăm tám mươi nghìn) đồng theo giấy nộp tiền vào tài khoản số 39491061691 tại kho bạc Nhà nước quận B ngày 17 tháng 4 năm 2018.

Án phí HSST: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày 11 tháng 5 năm 2018./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ