- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tẩn Chỉn C bị truy tố tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Tẩn Chỉn C phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu một phong bì
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2018/HSST Ngày: 06-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Hòa;
Bà Trần Thị Mùi;
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Vũ Đức Hoàng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2018/HSST, ngày 09 tháng 10 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2018/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Tẩn Chỉn C; tên gọi khác: không; sinh năm: 1975; tại huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: bản K, xã V, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tẩn Phủ X (đã chết) và bà Phàn San M (đã chết); bị cáo có vợ là Tẩn San M1, sinh năm 1984 và có 05con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền sự: không; tiền án: không; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 30/6/2018, đến ngày 09/7/2018 được chuyển biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo được triệu tập có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 30 tháng 6 năm 2018, Tẩn Chỉn C, sinh năm 1975, trú tại bản K, xã V, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu một mình đi bộ theo đường mòn từ lán ruộng của Cao ở khu vực giáp danh giữa xã V và M của huyện Phong Thổ để sang chợ Dề Suối Thàng- Trung Quốc, mục đích mua thức ăn và Heroine để sử dụng. Khoảng 11 giờ cùng ngày Tẩn Chỉn C đến chợ, sau khi mua được thức ăn, C gặp một người đàn ông dân tộc Hà nhì là người Việt Nam (C không biết tên, tuổi, địa chỉ người Hà nhì ở đâu, chỉ biết mặt vì cùng là người nghiện ma túy). Qua trao đổi, C được người đàn ông đó chỉ cho đến gặp một người phụ nữ Trung Quốc bán hàng trong chợ để mua Heroine. Tẩn Chỉn C đến gặp người phụ nữ và mua được của người này 01 gói Heroine được gói ngoài bằng nilon màu trắng buộc thắt lạivới giá 600NDT (nhân dân tệ). Mua được gói Heroine Tẩn Chỉn C cất ngay vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi về Việt Nam vào lán ruộng của C ở khu vực giáp danh giữa hai xã M và xã V của huyện Phong Thổ. Khoảng 20 giờ cùng ngày Tẩn Chỉn C lấy gói Heroine ra cầm trên tay trái, tay phải cầm bật lửa và mảnh giấy bạc, đầu đeo đèn pin để soi đường đi từ lán ruộng lên hang đá cách lán ruộng khoảng 100m để sử dụng Heroine. Trên đường đi C gặp tổ công tác Đồn biên phòng Sì Lờ Lầu, Tẩn Chỉn C định bỏ chạy nhưng đã bị giữ lại. Gói Heroine C thả xuống đất cách chỗ C đứng khoảng 1m, qua ánh đèn pin tổ công tác đã phát hiện và yêu cầu C nhặt lên để kiểm tra. Qua kiểm tra bên ngoài là hai lớp nilon màu trắng (ngoài buộc thắt lại, trong vặn xoắn lại) trong là chất bột khô, vón cục, màu trắng. Tẩn Chỉn C khai là Heroine, mục đích mua về để sử dụng cho bản thân. Tẩn Chỉn C bị tạm giữ cùng tang vật. Gói chất bột khô, vón cục, màu trắng thu giữ của Tẩn Chỉn Cao có khối lượng là 3,29g (Ba phẩy hai mươi chín gam), cơ quan điều tra đã trích 0,29g (Không phẩy hai mươi chín gam) làm mẫu vật gửi đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số: 324/GĐ-KTHS, ngày 05/7/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận " Số chất bột khô, vón cục, màu trắng thu giữ của Tẩn Chỉn C có khối lượng 3,29gam đã trừ bì. Mẫu chất bột khô, vón cục, màu trắng thu giữ của Tẩn Chỉn C gửi giám định là ma túy, loại Heroine .không hoàn lại mẫu vật gửi đến giám định"
Quá trình điều tra, truy tố tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu là hoàn toàn đúng.
Bản cáo trạng số: 42/ CT-VKS, ngày 08 tháng 10 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Tẩn Chỉn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu giữ quyền công tố tại phiên tòa, luận tội, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa khẳng định quyết định truy tố là đúng cần giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tung Hình sự xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù; không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đồng thời đề nghị giải quyết vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát luận tội, bị cáo thừa nhận là đúng với hành vi phạm tội của mình, bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới; Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định, nhất trí với luận tội, không có ý kiến tranh luận; Bị cáo có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong vật chứng của vụ án, bản kết luận giám định số: 342/GĐ-KTHS, ngày 05/7/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ kết luận: Hồi 20 giờ 45 phút, ngày 30/6/2018, tại khu vực giáp danh giữa hai xã M và V của huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Tẩn Chỉn C, sinh năm 1975, trú tại bản K, xã V, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đang cầm trên tay trái một gói Heroine có khối lượng 3,29 gam được gói ngoài bằng hai lớp nilon màu trắng mà C khai mua được của một người phụ nữ Trung Quốc ở chợ Dề Suối Thàng với số tiền 600NDT. Tẩn Chỉn C đang chuẩn bị sử dụng cho bản thân thì bị thu giữ.
Hành vi mua ma túy để sử dụng cho bản thân không có mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất chính là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước ta; Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, có sức khỏe, nhận thức được tác hại của ma túy và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì bản thân nghiện ma túy bị cáo đã bất chấp cố ý phạm tội. Vậy, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội cần chấp nhận; Cụ thể điều luật quy định:
“Khoản 1: Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine ....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam”.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm do bị cáo thực hiện: bị cáo Tẩn Chỉn C thực hiện hành vi tàng trữ trái phép với số lượng 3,29 gam Heroine là tương đối lớn thuộc tội phạm nghiêm trọng nên tính chất nghiêm trọng của tội phạm cho xã hội cũng cao hơn tội phạm ít nghiêm trọng. Nhất là loại tội phạm về ma túy đang được cả thế giới quan tâm và loại trừ nó, Đảng và Nhà nước ta cũng có nhiều chính sách nghiêm trị loại tội phạm này. Do vậy cần buộc bị cáo đi tập trung cải tạo một thời gian theo Điều 38 bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, cũng như góp phần đấu tranh phòng ngừa chung, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật cho công dân.
Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc thiểu số, không được đi học, sinh ra và lớn lên ở nơi có điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội khó khăn nên ảnh hưởng về nhận thức là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy cần xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo, nhưng vẫn cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là hợp lý.
Về vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo gửi giám định còn 03 gam cùng toàn bộ vỏ niêm phong cũ đã được niêm phong trong cùng một phong bì là vật nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy theo khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự (phong bì niêm phong có đặc điểm và hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/10/2018 giữa Công an huyện Phong Thổ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ).
Về hình phạt bổ sung: Xét bản thân bị cáo làm ruộng, mục đích mua ma túy chỉ để thỏa mãn nhu cầu của bản thân không có mục đích lợi nhuận; gia đình không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử thấy lời đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo khai mua ma túy của một người phụ nữ Trung Quốc khoảng 40 tuổi tại chợ Dề Suối Thàng- Trung Quốc nhưng bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người đó, ngoài lời khai của bị cáo không có chứng cứ nào khác. Do vậy Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xem xét xử lý người phụ nữ này trong vụ án, cũng như hành vi mua bán qua biên giới của bị cáo là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1/ Tuyên bố bị cáo Tẩn Chỉn C phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2/ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Tẩn Chỉn C 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù (khấu trừ 09 ngày bị tạm giữ cho bị cáo). Vậy bị cáo còn phải chấp hành 03 (Ba) năm 05 (Năm) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
3/ Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
4/ Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu một phong bì đã được niêm phong (trong là 3 gam Heroine cùng toàn bộ vỏ niêm phong cũ đã được niêm phong) để tiêu hủy; (Phong bì niêm phong hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện có đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/10/2018, giữa cơ quan Công an huyện Phong Thổ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).
5/ Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, buộc bị cáo Tẩn Chỉn C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
6/ Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND hai cấp; - CQĐT cùng cấp; - Cơ quan THAHS; - Nhà tạm giữ; - Bị cáo; - THADS cùng cấp; - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu -Lưu: THA-HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |