- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trịnh Quang L phạm tội : Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2018/HS-ST Ngày 21/8/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà : Ông Nguyễn Thành Trung
Các Hội thẩm nhân dân :
Ông Nguyễn Hạ Tuấn, Cán bộ hưu trí huyện Ứng Hòa
Ông Đặng Viết Côi, Cán bộ hưu trí huyện Ứng Hòa
- Thư ký phiên toà : Bà Nguyễn Thị Kim Lành - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà tham gia phiên toà : Ông Nguyễn Thuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2018 tại Trụ sở toà án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số : 68/2018/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo : TRỊNH QUANG L, Sinh ngày 26 tháng 8 năm 1993 tại xã H , huyện U, thành phố Hà Nội; nơi cư trú : Thôn Đ, xã H, huyện U, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc : Kinh; tôn giáo : Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn : 7/12; họ và tên cha : Trịnh Quang T, sinh năm 1962; họ và tên mẹ: Đặng Thị S, sinh năm 1962; vợ, con : chưa có; tiền án, tiền sự : Không; Nhân thân : Ngày 10/10/2011, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Ứng Hòa áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc tại Trung tâm giáo dục Lao động Xã hội tại xã Yên Bài, huyện Ba Vì, TP Hà Nội; Ngày 10/10/2013, chấp hành xong về địa phương và bị Chủ tịch UBND huyện Ứng Hòa áp dụng quản lý sau cai nghiện thời hạn 24 tháng đến ngày 10/10/2015 chấp hành xong. Bị cáo bị bắt tạm giữ tại nhà tạm giữ Công an huyện Ứng Hòa từ ngày 17/5/2018 đến ngày 26/5/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giữ bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng : Ông Tưởng Duy Đ, sinh năm 1952; trú tại : Thôn V, xã T, huyện U, TP Hà Nội, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau : Khoảng 08 giờ, ngày 17/5/2018, Trịnh Quang L đi nhờ xe máy của người đi đường, không quen biết đến khu vực thôn Phí Trạch, Phương Tú, Ứng Hòa tìm mua được của một người đàn ông không quen biết ở ngoài đường được 01 gói ma túy với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy L cầm ở tay trái rồi đi về đến khu vực thôn Văn Ông, xã Tảo Dương Văn thì bị Công an huyện Ứng Hòa kiểm tra, L đã tự nguyện giao nộp cho Công an 01 gói bọc ngoài bằng giấy màu trắng, bên trong có các cục bột màu trắng và khai nhận đó là gói ma túy của Lâm vừa mua về để sử dụng. Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trịnh Quang L và thu giữ, niêm phong vật chứng.
Vật chứng thu giữ: 01 gói ma túy bên ngoài bọc bằng giấy màu trắng, bên trong có các cục bột màu trắng được niêm phong trong phong bì thư đề mẫu A1.
Ngày 17/5/2018, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ứng Hòa quyết định trưng cầu giám định số 102 đối với gói ma túy đã thu giữ. Kết quả, tại bản kết luận giám định số 4868/KLGĐ-PC54 ngày 25/5/2018: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy trắng (Phong bì ký hiệu mầu A1) là ma túy, loại Heroin, khối lượng 0,251gam”.
Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số : 62/CT - VKS ngày 6/8/2018 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy đã truy tố bị cáo Trịnh Quang L về tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà : Đại diện VKS giữ nguyên quan điểm truy tố cả về tội danh nội dung cũng như điều luật, khoản áp dụng như trên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm năm 2015, xử phạt bị cáo Trịnh Quang L từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 17/5/2018 đến ngày 26/5/2018. Về xử lý vật chứng : Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định gửi trả lại. Về án phí : Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : Buộc bị cáo Trịnh Quang Lâm phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người làm chứng, người tham gia tố tụng khác .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau :
Tại phiên toà bị cáo nhận tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã qui kết. Xét thấy lời nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ được, bản kết luận giám định, người làm chứng và các tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận : Bị cáo Trịnh Quang L là đối tượng nghiện chất ma tuý; Sáng ngày 17/5/2018 L đến khu vực thôn Phí Trạch, Phương Tú, Ứng Hòa, Hà Nội tìm mua được gói ma túy với giá 200.000đ của một người không quen biết thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt giữ. Kết quả giám định vật chứng trên là ma túy loại Heroin, khối lượng là 0,251 gam.
Bằng hành vi mua, cất giữ trái phép chất ma túy nêu trên nhằm mục đích sử dụng của Trịnh Quang L. Đối chiếu với quy định của pháp luật thì bị cáo đã đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hoà truy tố bị cáo với hành vi và điều, khoản, tội danh trong cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý và sử dụng chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự xã hội, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Bị cáo đã bị áp dụng biện pháp hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn không từ bỏ ma túy. Vì vậy cần phải áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo, phù hợp với tích chất, mức độ của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, khi quyết định hình phạt.
Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là người nghiện chất ma tuý nên Toà không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đối với người cho Trịnh Quang L đi nhờ và người bán ma túy cho Lâm, bản thân bị cáo không xác định được là ai, nên không có căn cứ để làm rõ xử lý.
Xử lý vật chứng : Số Hêrôin sau khi giám định niêm phong gửi trả lại đây là vật chứng của vụ án, cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp với điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về án phí, quyền kháng cáo : Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm - Theo Điều 135;136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lệ phi ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH :
1. Tuyên bố bị cáo Trịnh Quang L phạm tội : Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt : Trịnh Quang L 18 (Mười tám) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2018 đến ngày 26/5/2018.
2. Về xử lý vật chứng : Căn cứ khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tịch thu tiêu huỷ vật chứng của vụ án là số Hêrôin sau giám định gửi lại, đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong đề Công an thành phố Hà Nội, đơn vị Công an huyện Ứng Hoà; mặt bên có chữ kỹ của giám định viên Nguyễn Hoàng Tùng và Trịnh Quang L, dấu của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ứng Hòa tại các mép niêm phong (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng trên theo biên bản bàn giao, nhận vật chứng ngày 17/8/2018 giữa cơ quan công an đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hoà quản lý).
3. Về án phí : Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : Buộc bị cáo Trịnh Quang L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
4.Về quyền kháng cáo : Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận : - TANDTP Hà Nội; - VKSND; Công an huyện Ứng Hòa; - Chi cục T.H.ADS huyện Ứng Hoà; - Bị cáo; - Lưu : Hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thành Trung |