- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đặng Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. - phạm tội tàng trữ trái phép chất…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2018/HS-ST Ngày: 29-11-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Trưởng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ngọc và bà Phạm Thị Hoa.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lý Nhân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân tham gia phiên toà: Ông Trần Xuân Sáng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2018/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2018, đối với bị cáo:
Đặng Văn Đ, sinh năm 1975, tại Hà Nam; nơi cư trú: Xóm 2C, xã C, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Thợ xây; trình độ văn hoá: Lớp 3; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đình T và bà Đặng Thị Đ; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Bản án số 343/2008/HSST ngày 16-10-2008, TAND quận B, Thành phố Hà Nội xử phạt 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
- Ngày 28-3-2014, bị áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma tuý tại Trung tâm Quản lý sau cai nghiện ma tuý số 2 Hà Nội, với thời hạn là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày 02-4-2014, theo Quyết định số 561/QĐ-UBND ngày 28-3-2014 của Chủ tịch UBND quận H, Thành phố Hà Nội. Ngày 02-4-2016 chấp hành xong.
Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hà Nam từ ngày 07-9-2018 cho đến nay. Có mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh Trần Ngọc C, sinh năm 1978; nơi cư trú: Xóm H2, xã N, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
+ Anh Phạm Văn B, sinh năm 1961; nơi cư trú: Xóm 1-5 M, xã N, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
+ Chị Nguyễn Thị Thuý N, sinh năm 1990; nơi cư trú: Xóm L, xã N, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1954; nơi cư trú: Xóm H2, xã N, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 07-9-2018, tại trục đường bê tông ĐH05 thuộc xóm H2, xã N, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, lực lượng Công an huyện L phối hợp với Ban Công an xã N đang làm nhiệm vụ, phát hiện Đặng Văn Đ điều khiển một xe mô tô dừng trước cửa hiệu thuốc T, thấy có dấu hiệu nghi vấn nên lực lượng Công an đã tiến hành kiểm tra hành chính. Thấy vậy, Đ thả từ tay trái xuống lề đường bê tông cạnh ngay chỗ Đ đứng 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng cam (loại ống hút), dài khoảng 1,5cm, hai đầu gắn kín, kiểm tra bên trong có chất bột dạng cục màu trắng là ma tuý, loại Heroin (Heroine là chất ma tuý nằm trong Danh mục I, STT 09, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15-5-2018 của Chính phủ), có khối lượng 0,303 (Không phảy ba trăm linh ba) gam (theo kết luận giám định số 145/PC09-MT ngày 10-9-2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam). Cơ quan Công an đã lập biên bản phạm tội quả tang đối với Đà và thu giữ của Đà 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 112 màu đen, ốp lưng màu xám kèm theo 01 sim điện thoại mạng Vinaphone và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda màu nâu, đeo biển kiểm soát 16M3-4700, đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đ nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu nào có liên quan.
Quá trình điều tra: Đặng Văn Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda màu nâu, đeo biển kiểm soát 16M3-4700, số khung VTTDCG024TT153417, số máy VTTYP50FMG153417, Đà sử dụng để đi mua ma tuý, qua điều tra, xác minh xác định Đ mua xe này của một người bán đồng nát, xe không có giấy tờ.
Vật chứng của vụ án: Số Heroin hoàn trả sau giám định niêm phong trong phong bì kí hiệu số 145/PC09-MT của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen (đã sử dụng), 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda đeo biển kiểm soát 16M3-4700, số khung VTTDCG024TT153417, số máy VTTYP50FMG153417, đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân ngày 09-11-2018.
Bản cáo trạng số 59/CT-VKSLN ngày 07-11-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, truy tố Đặng Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo khai: Do nghiện ma tuý, khoảng 11 giờ 15 phút ngày 07-9-2018, bị cáo đã cất giấu 01 gói Heroin, khối lượng 0,303 gam để sử dụng, bị lực lượng Công an huyện Lý Nhân bắt quả tang.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Đặng Văn Đ từ 24 (Hai mươi bốn) đến 30 (Ba mươi) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước chiếc xe mô tô biển kiểm soát 16M3-4700, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Heroin hoàn trả sau giám định; trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động Nokia. Bị cáo còn phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, khách quan.
Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định số 145/PC09-MT ngày 10-9-2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác lưu trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 07-9-2018, tại trục đường bê tông ĐH05 thuộc địa phận xóm H2, xã N, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, Công an huyện L và Ban Công an xã N, huyện Lý Nhân đã phối hợp, bắt quả tang Đặng Văn Đ đang cất giấu 0,303g (Không phảy ba trăm linh ba gam) Heroin để sử dụng.
Hành vi nêu trên của Đặng Văn Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, đồng thời làm mất trật tự, trị an xã hội tại địa phương. Vì vậy, phải xử lý nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.
Tệ nạn ma tuý để lại nhiều hậu quả nặng nề cho gia đình có người nghiện và xã hội. Bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, có nhân thân rất xấu, đã từng bị kết án và bị áp dụng biện quản lý sau cai nghiện nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân, lại tiếp tục phạm tội nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Tuy nhiên, khi áp dụng hình phạt xét thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào của vụ án; bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo yên tâm chấp hành án, sớm hoà nhập cộng đồng xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội không vì động cơ vụ lợi; bị cáo không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số Heroin hoàn trả sau giám định niêm phong trong phong bì kí hiệu số 145/PC09-MT của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu huỷ. Chiếc xe mô tô đeo biển kiểm soát 16M3-4700, số khung VTTDCG024TT153417, số máy VTTYP50FMG153417 là xe của bị cáo dùng để đi mua ma tuý về sử dụng, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, đã qua sử dụng, thu của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Văn Đ 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07-9-2018.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, đã qua sử dụng.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước chiếc xe mô tô đeo biển kiểm soát 16M3-4700, số khung VTTDCG024TT153417, số máy VTTYP50FMG153417.
- Tịch thu và tiêu huỷ số Heroin hoàn trả sau giám định được niêm phong trong phong bì kí hiệu số 145/PC09-MT của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam.
Tình trạng, đặc điểm vật chứng cụ thể như biên bản bàn giao vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân ngày 09-11-2018.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đặng Văn Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của các Điều 6,7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Lý Nhân; - Công an huyện Lý Nhân; - Chi cục THADS huyện Lý Nhân; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ + Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Quốc Trưởng |