- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thi Mạnh L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? TAND cấp cao tại Hà Nội;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2018/HS-PT Ngày 29-8-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lộc Sơn Thái;
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tuệ;
Ông Lê Xuân Sơn.
- Thư ký phiên toà: Bà Tạ Thị Hồng Trâm - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Tống Văn Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 86/2018/TLPT-HS ngày 20 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo Thi Mạnh L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 85/2018/HS-ST ngày 14 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Bị cáo có kháng cáo:
Thi Mạnh L, sinh ngày 30 tháng 10 năm 1986, tại tỉnh Lạng Sơn.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đường P, phường Đ, thành phố L1, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở hiện nay: Đường B, phường Đ, thành phố L1, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thi Văn L2, sinh năm 1960 và bà Hoàng Thị T, sinh năm 1965; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án hình sự số 01/HS-PT ngày 24/01/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã xử phạt bị cáo 18 (mười tám) tháng tù về Tội cố ý gây thương tích; Bản án số 529/2006/HS-PT ngày 23/5/2006 của Tòa án nhân dân tối cao xử phạt bị cáo 10 năm tù về Tội hiếp dâm trẻ em; bị bắt tạm giữ ngày 19/01/2018 đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 30 phút ngày 19/01/2018, Tổ công tác của Công an thành phố Lạng Sơn tiến hành kiểm tra hành chính nơi ở của Nông Thanh T1 phát hiện bắt quả tang Thi Mạnh L tàng trữ trên người 01 túi nilon đựng chất tinh thể màu trắng, 01 túi nilon đựng 27 viên nén màu hồng nghi là ma túy. Ngoài ra còn thu giữ 01 điện thoại di động Nokia màu đen cũ đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu trắng cũ đã qua sử dụng và 10.300.000 đồng. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Thi Mạnh L tại đường B, phường Đ, thành phố L thu giữ được 01 túi nilon diện 4 x 6cm bên trong đựng chất bột màu trắng; 01 bình thủy tinh đầu có gắn ống thủy tinh; 01 chai nhựa có gắn vòi nhựa; 01 cân tiểu ly nhãn hiệu Ainput; 10 vỏ túi nilon viền đỏ diện 1 x 2cm; 20 vỏ túi nilon viền xanh diện 2 x 3cm; 10 mảnh giấy bạc diện 2 x 3cm. Trong quá trình khám xét nơi ở của Thi Mạnh L đã bắt quả tang Lộc Nam P1 tàng trữ trong túi quần đằng sau bên trái 01 chiếc ví giả da màu nâu bên trong có 01 túi nilon chứa 02 viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng; trong túi quần trước bên phải có 01 hộp bao thuốc lá “THĂNG LONG” bằng sắt, bên trong có 01 túi nilon chứa mẩu viên nén màu hồng. Ngoài ra, còn thu giữ 01 chiếc xe mô tô hiệu HONDA SH 125i, biển kiểm soát 12P1 – 077.01 xe đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu vàng màn hình có nhiều vết nứt, bật nguồn không khởi động được máy nên không xác định được số IMEI. Quá trình điều tra, bị cáo Thi Mạnh L khai nhận: Do bản thân là người nghiện ma túy nên bị cáo thường xuyên mua ma túy về sử dụng. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19/01/2018, bị cáo đã mua 3.000.000 đồng tiền ma túy đá và ma túy ngựa với một người đàn ông tên H. Sau khi mua xong, bị cáo đã xẻ một ít ma túy sử dụng cùng Lộc Nam P1 và Hà Quang H1 và tiếp tục đến nhà Nông Thanh T1 sử dụng tiếp thì bị Công an bắt. Tại bản Kết luận giám định số 88/KL-PC54 ngày 22/01/2018 xác định: “1. Trong phong bì ký hiệu 01: 27 viên nén màu hồng gửi giám định đều là chất ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 2,581 gam (đã trừ bì); chất tinh thể màu trắng gửi giám định là chất ma túy Methamphetamine có khối lượng 2,740 gam (đã trừ bì); 2. Trong phong bì thư ký hiệu 02: Chất bột màu trắng gửi giám định có khối lượng 1,441 gam (đã trừ bì) không tìm thấy chất ma túy trong mẫu vật; 3. Trong phong bì thư ký hiệu 03: Chất tinh thể màu trắng gửi giám định là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,137 gam (đã trừ bì); 02 viên nén màu hồng và ½ viên nén màu hồng gửi giám định đều là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,224 gam (đã trừ bì)”. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 85/2018/HS-ST ngày 14/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn đã tuyên bố bị cáo Thi Mạnh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Thi Mạnh L 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 19/01/2018. Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên phạt đối với bị cáo Lộc Nam P1 về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy với mức án 18 (mười tám) tháng tù giam; xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo. Ngày 28 tháng 6 năm 2018, bị cáo Thi Mạnh L có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Thi Mạnh L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Kiểm sát viên tại phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đưa ra tình tiết mới là lao động chính trong gia đình; gia đình bị cáo có em gái là Thi Phương L3 được Nhà nước tặng Bằng khen vì đã có thành tích xuất sắc trong Đại hội Thể dục thể thao toàn quốc năm 2010. Do đó, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Thi Mạnh L, sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 85/2018/HS-ST ngày 14/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn về phần hình phạt đối với bị cáo Thi Mạnh L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo Thi Mạnh L đều thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Bản án sơ thẩm tuyên phạt bị cáo về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội, không oan. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không kháng cáo về phần tội danh, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là gây nguy hiểm cho xã hội với tính chất nghiêm trọng. Hành vi đó đã xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo Thi Mạnh L là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi cho bản thân nên vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Vì vậy, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra để nhằm mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét kháng cáo của bị cáo Thi Mạnh L xin được giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân không tốt, đã từng bị Tòa án xét xử về về Tội cố ý gây thương tích và Tội hiếp dâm trẻ em. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Thi Mạnh L 05 (năm) năm tù giam là phù hợp và có căn cứ. Trong thời hạn luật định, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là quá cao. Tại phiên tòa phúc thẩm, gia đình bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do bố mẹ bị cáo đã cao tuổi, sức yếu, bị cáo là con trai duy nhất, là lao động chính trong gia đình, em gái bị cáo đã đi lấy chồng nên gia đình rất neo đơn; em gái của bị cáo là Thi Phương L3 được Nhà nước tặng Bằng khen vì đã có thành tích xuất sắc trong Đại hội Thể dục thể thao toàn quốc năm 2010. Xét thấy, hoàn cảnh gia đình bị cáo thực sự khó khăn, bố mẹ bị cáo đã già, tuổi cao sức yếu, bố bị bệnh gan, mẹ bị bệnh đau dây thần kinh sau lưng. Hiện nay, em gái đã đi lấy chồng nên bố mẹ chỉ ở cùng bị cáo, xác định bị cáo là lao động chính trong gia đình, ngoài bị cáo ra không còn ai phụng dưỡng bố mẹ khi tuổi già. Đây là tình tiết mới chưa được cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng và là một trong những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Thi Mạnh L, xử bị cáo mức án dưới khung hình phạt. Việc sửa Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn là do có tình tiết mới. [4] Nhận định trên cũng phù hợp với ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn. [5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Thi Mạnh L được Tòa án chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. [6] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thi Mạnh L; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 85/2018/HS-ST ngày 14/6/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; cụ thể: Tuyên bố bị cáo Thi Mạnh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 1. Về hình phạt Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Thi Mạnh L 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 20/01/2018. 2. Về án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghi ̣ quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bi ̣ cáo Thi Mạnh L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. 3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - PV27 Công an tỉnh Lạng Sơn; - TAND Tp Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - VKSND Tp Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS Tp Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Công an Tp Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo (qua Trại tạm giam); - Tổ HCTP, KTNV&THA; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa Hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lộc Sơn Thái |