- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Mỹ L yêu cầu ly hôn Trần Văn S"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2018/HNGĐ-ST Ngày: 07-9-2018 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ R, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Công
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Lý Xuyên
2. Bà Trương Thị Diễm
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thúy Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố R.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố R xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 134/2018/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2018 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 8 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 57/2018/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm: 1997
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Q, huyện V, tỉnh Bình Định. (Có mặt)
- Bị đơn: Anh Trần Văn S, sinh năm: 1997
Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường L, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/4/2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ L trình bày: Chị và anh Trần Văn S tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau vào năm 2015, đến năm 2017 được Ủy ban nhân dân xã Q, huyện V, tỉnh Bình Định cấp giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 29/11/2017. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường, đến cuối năm 2017 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Do anh S không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình, một mình chị lo cho gia đình và con trong khi đó anh đi chơi với bạn bè và sa đà vào những tệ nạn xã hội. Chị có khuyên can nhiều lần nhưng không được nên từ tháng 12/2017 cho đến nay anh chị không sống chung và không liên lạc với nhau. Hiện nay, chị không còn tình cảm với anh S. Do đó, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh S.
- Về con chung: Chị và anh S có 01 con chung Trần Văn T, sinh ngày: 12/02/2016. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố R:
- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị L. Về hôn nhân: chị L được ly hôn anh S; về con chung: chị L được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Trần Văn T, sinh ngày: 12/02/2016, anh S không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Về án phí: chị L phải nộp 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
* Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Giấy chứng nhận kết hôn của chị L, anh S; Trích lục khai sinh cháu T; Giấy chứng minh nhân dân chị L; Sổ hộ khẩu mang tên Nguyễn Văn T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Nguyễn Thị Mỹ L có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố R giải quyết vụ án hôn nhân gia đình giữa chị và anh Trần Văn S. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố R.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Tại phiên tòa, vắng mặt bị đơn anh S nhưng anh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh S.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị L và anh S tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau và được Ủy ban nhân dân xã Q, huyện V, tỉnh Bình Định cấp giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 29/11/2017 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn. Do anh S không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình dù chị đã khuyên can nhưng không có kết quả. Từ tháng 12/2017, anh chị đã không còn chung sống với nhau. Tại Biên bản xác minh ngày 24/5/2018, chính quyền địa phương cung cấp: “…Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn gia đình giữa chị Nguyễn Thị Mỹ L và anh Trần Văn S chính quyền địa phương không rõ.”. Xét thấy: Sau khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng chị L và anh S không tìm cách để hàn gắn mà mỗi người sống một nơi làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt; từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi xét xử, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh S đến Tòa để giải quyết vụ án nhưng anh S không chấp hành, thể hiện thái độ thờ ơ, bỏ mặc cuộc sống hôn nhân của anh chị làm cho hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị L yêu cầu được ly hôn với anh S là có cơ sở, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị L.
Về con chung: Chị L và anh S có 01 con chung Trần Văn T, sinh ngày: 12/02/2016. Chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi con.
Xét: Việc giao con cho ai nuôi dưỡng, giáo dục sau khi bố mẹ ly hôn là nhằm phát triển tốt cho con cả về mặt thể chất lẫn tinh thần. Cháu T dưới 36 tháng tuổi rất cần sự quan tâm, chăm sóc của mẹ và hiện nay cháu cũng đang sống với mẹ nên xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình, cần giao cháu T cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị L về việc không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Chị L phải nộp 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về “Ly hôn”.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ L.
1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ L được ly hôn anh Trần Văn S.
2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Trần Văn T, sinh ngày: 12/02/2016.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Mỹ L về việc không yêu cầu anh Trần Văn S cấp dưỡng nuôi con.
* Vì lợi ích của con, hai bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được quyền cản trở người đó thực hiện quyền này.
3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ L không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mỹ L phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về “Ly hôn” nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0012319 ngày 16/5/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố R. Chị L đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
5. Chị Nguyễn Thị Mỹ L có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Trần Văn S có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND t.p R; - CCTHADS t.p R; - UBND xã Q, huyện V, tỉnh Bình Định; - Các đương sự; - Lưu án văn. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Công |