vanban.org

Bản án 64/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà S yêu cầu ly hôn với ông S, có đăng ký kết hôn, không có con chung"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64 /2018/HNGĐ-ST
Ngày: 28-9-2018
V/v Tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Lâm Tới;

Bà Nguyễn Thị Mai.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quới - thư ký Tòa án nhân dân huyện

Tịnh Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên

tòa: Bà Neàng Sa Men– Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 163/2018/TLST-HNGĐ ngày 18

tháng 6 năm 2018 về việc "Xin ly hôn" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

58/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc S, sinh năm 1991. Địa chỉ: khóm T, thị

trấn T, huyện T, tỉnh Đ, vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Thanh S, sinh năm 1992. Địa chỉ: tổ 15, ấp T, xã T,

huyện T, tỉnh A, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện lại ngày 01 tháng 6 năm 2018 và các lời khai tại Tòa

án trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc S trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông S chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại

Ủy ban xã T, huyện T ngày 04 tháng 9 năm 2015, thời gian chung sống 02 năm

nhưng cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xảy ra cải vả, do anh S

hay cá độ bóng đá, không chịu làm ăn. Từ tháng 4 năm 2016 vợ chồng đã không

còn chung sống với nhau. Bà yêu cầu được ly hôn với ông Trần Thanh S.

Về con chung: không có.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

- Đối với ông Trần Thanh S đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng

thông qua việc niêm yết công khai về: thông báo thụ lý vụ án; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn ông S vắng mặt, nên Tòa án tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và lập biên bản không tiến hành hòa giải được.

Ngày 17 tháng 9 năm 2018 Tòa án mở phiên tòa xét xử và đã triệu tập

hợp lệ các đương sự nhưng chỉ có mặt nguyên đơn, bị đơn vắng mặt không có lý do nên Tòa án hoãn phiên tòa lần thứ nhất.

Tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc S và bị đơn ông S

vắng mặt.

* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên phát biểu ý kiến

về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký

Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn thực hiện quyền

và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân giữa bà S và ông

S có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo pháp luật. Xét thấy về tình cảm bà S và ông S không còn hạnh phúc, cả hai bỏ mặt không còn quan tâm, chung sống với nhau, thể hiện từ tháng 4 năm 2016 thì bà S đã về nhà sống tại khóm T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đ. Như vậy, thấy rằng cuộc sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt, về con chung, tài sản chung, nợ chung: không có. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Ngọc S.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả

tranh luận tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc S được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai,

có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Trần Thanh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ có mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nhưng vắng mặt. Theo quy định khoản 2 Điều 227 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

- Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Trần Thanh S có đăng ký hộ

khẩu thường trú và sinh sống tại ấp Tân Định, xã T, huyện T, tỉnh An Giang.

Tòa án nhân dân huyện Tịnh Biên thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại

khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật

tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: giữa bà Lê Thị Ngọc S và ông Trần Thanh S được xác lập

vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T ngày 04 tháng 5

năm 2015 theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm

2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Theo lời khai của bà S cho rằng nguyên

nhân mâu thuẫn do ông S hay chơi cá độ bóng đá, không lo làm ăn. Vợ chồng

không còn chung sống với nhau từ tháng 4 năm 2016. Từ đó thấy rằng giữa vợ

chồng không còn quan tâm lẫn nhau. Điều này chứng minh tình cảm của vợ

chồng không còn, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích

hôn nhân không đạt được. Nên bà S xin ly hôn là có căn cứ.

- Về quan hệ con chung: không có.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà S khai không có.

Do đó, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng

xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở.

Về án phí:Bà Lê Thị Ngọc S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ

thẩm không có giá ngạch. Ông Trần Thanh S không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,

thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc S xin ly

hôn với ông Trần Thanh S.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Ngọc S được ly hôn với ông Trần

Thanh S.

- Về con chung: không có.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có.

2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị Ngọc S phải chịu

300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: TU/2016/0004243 ngày 18 tháng 6 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tịnh Biên. Bà S đã nộp xong.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong

thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2

luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành dân sự.

Cỡ chữ