- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thạnh T được ly hôn với chị Võ Thị S
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 64/2018/HNGĐ-ST Ngày 22/5/2018. V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình - Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Đạt Thành
2. Bà Diệp Thị Thu Nguyệt
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Sơn.
Trong ngày 22 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2018/TLST-HNGĐ ngày 15/01/2018, về tranh chấp “Hôn nhân và gia đình
- Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/4/2018, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thạnh T, sinh năm 1985 (có mặt)
Cư trú: Ấp Sơn Tân, xã Vọng Đông, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Chị Võ Thị S, sinh năm 1995 (vắng mặt)
Cư trú: Ấp Sơn Tân, xã Vọng Đông, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, nguyên đơn anh Nguyễn Thạnh T trình bày: Tôi với chị Võ Thị S chung sống với nhau từ năm 2013, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Sơn Bình, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc và có 01 con chung tên Nguyễn T T, sinh ngày 01/01/2015. Đến tháng 11 năm 2015 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chị S có quan hệ bất chính với người đàn ông khác dẫn đến vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng đã ly thân từ năm 2016 cho đến nay, sau khi ly thân chị S về nhà cha mẹ ruột sinh sống, vợ chồng không còn liên lạc nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên tôi yêu cầu được ly hôn với chị Võ Thị S; về con chung sau khi ly hôn tôi yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị S phải cấp dưỡng; về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt cho chị Võ Thị S thông báo thụ lý, thông báo hòa giải với nội dung: Anh Nguyễn Thạnh T yêu cầu xin ly hôn với chị Võ Thị S; về con chung yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chị S cấp dưỡng; về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do chị S vắng mặt tại nơi cư trú, nên Tòa án đã niêm yết các thủ tục tố tụng, lập biên bản không hòa giải được và tiến hành đưa vụ án ra xét xử.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đều chấp hành đúng với quy định của pháp luật; đối với bị đơn Võ Thị S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Về trình tự thụ lý, biên bản tống đạt đảm bảo đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án, qua xem xét toàn bộ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thạnh T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn, bị đơn chị Võ Thị S cư trú tại ấp Sơn Tân, xã Vọng Đông, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Theo quy định tại Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Tại phiên tòa, chị Võ Thị S vắng mặt, Tòa án đã triệu tập hợp lệ hai lần. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị S.
Về nội dung: Anh Nguyễn Thạnh T chung sống với chị Võ Thị S từ năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Sơn Bình, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Sau khi kết hôn, anh T, chị S có thời gian chung sống hạnh phúc, đến năm 2015 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân chị S có quan hệ bất chính với người đàn ông khác, không chăm lo cuộc sống gia đình, vợ chồng thường xuyên cự cải nhau làm cho không khí gia đình luôn căng thẳng, vợ chồng đã ly thân từ năm 2015 cho đến nay, trong thời gian ly thân mỗi người sống mỗi nơi, không ai tới lui thăm nhau; mặt khác năm 2016 anh T đã có đơn yêu cầu ly hôn với chị S tại Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, qua hòa giải anh T đã rút đơn khởi kiện để trở về chung sống với chị S, nhưng cuộc sống vẫn không hạnh phúc, nay anh T lại tiếp tục gửi đơn yêu cầu ly hôn với chị S đều này chứng tỏ tình cảm giữa anh T và chị S không còn. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập chị S đến Tòa nhằm mục đích hòa giải hàn gắn quan hệ hôn nhân nhưng chị S vắng mặt không lý do nên Tòa án không thể hòa giải đoàn tụ được. Về phía anh T kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị S vì tình cảm vợ chồng không còn. Từ những nhận định phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh T với chị S mâu thuẩn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Thạnh T được ly hôn với chị Võ Thị S.
Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống, anh T với chị S có 01 con chung tên Nguyễn T T, sinh ngày 01/01/2015, hiện nay cháu T T chung sống với anh T, được anh T chăm sóc, nuôi dưỡng và cho đi học ổn định. Để tránh xáo trộn về mặt tâm lý, Hội đồng xét xử nghĩ nên giao cháu Nguyễn T T cho anh T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của anh T không yêu cầu chị S phải cấp dưỡng nuôi con, anh T phải tạo điều kiện cho chị S đến thăm nom, chăm sóc con, khi cần thiết có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định pháp luật.
Về quan hệ tài sản chung: Do anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét; về nợ chung không có.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Anh T yêu cầu xin ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 điều 227, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Thạnh T được ly hôn với chị Võ Thị S
- Về quan hệ con chung: Anh Nguyễn Thạnh T được nuôi con chung tên Nguyễn T T, sinh ngày 01/01/2015; chị S không phải cấp dưỡng nuôi con, anh T phải tạo điều kiện cho chị S được quyền đến thăm nom, chăm sóc con, khi cần thiết có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định pháp luật.
- Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về nợ chung: Ghi nhận anh T xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của anh T và chị S trong thời kỳ hôn nhân thì anh Nguyễn Thạnh T và chị Võ Thị S phải liên đới trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
- Về án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Thạnh T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0000898 ngày 15/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (anh T đã nộp xong).
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã nơi đương sự cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Thoại Sơn; - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn; - UBND xã Vọng Đông, huyện Thoại Sơn; - UBND xã Sơn Bình, huyện Hòn Đất, KG; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triều |