- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trọng T "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 BLHS - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Trọng T phạm t i "Tàng trữ trái phép ch t ma túy".
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2017/HSST Ngày: 11/9/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đinh Văn Hải
2. Ông Lưu Danh Thùy
Thư ký phiên tòa: Ông Lý Xuân Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tØnh Cao B»ng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Chinh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2017/HSST ngày 07 tháng 8 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2017/QĐXXST-HS ngày 28/8/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo:
Họ và tên: LÊ TRỌNG T, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 15/7/1980; Nơi sinh: Huyện HH, tỉnh Thanh Hóa; H khẩu thư ng tr : Thôn HN, xã HT, huyện HH, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở hiện nay: Tổ H, phư ng HG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng; Dân t c: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình đ học v n: 6/12 phổ thông; Con ông: Lê Trọng L, sinh năm: 1958; Con bà: Nguyễn Thị C, sinh năm: 1958, đều có HKTT: Thôn HN, xã HT, huyện HH, tỉnh Thanh Hóa; Anh, chị, em ru t: Có 04 anh em, bị cáo là con cả trong gia đình; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 06/11/2001, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 năm tù về t i Cướp tài sản; Ngày 17/7/2009, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai ra Quyết định đưa vào trư ng giáo dưỡng, cơ sở giáo dục 24 tháng. Bị cáo bị bắt ngày 04/5/2017, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Có mặt.
Người làm chứng: Nguyễn Văn K - sinh năm 1976; HKTT: Tổ dân phố B, thị tr n NB, huyện NB, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 gi 40 phút, ngày 04 tháng 5 năm 2017 tại Tổ H, phư ng HG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác đ i Cảnh sát điều tra t i phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang Lê Trọng T (Sinh ngày 15/7/1980 tr tại HT, HH, Thanh Hóa) và Nguyễn Văn K (Sinh ngày 12/5/1976 tr tại thị tr n NB, huyện NB, tỉnh Cao Bằng) có hành vi sử dụng và tàng tữ trái phép ch t ma t y. Vật chứng thu giữ: 01 mảnh gi y bạc đã cháy xém T và K khai dùng để sử dụng ma t y; 01 t i nilon màu hồng, trong lớp nilon màu hồng có chứa 02 gói gi y bạc màu vàng, bên trong có Hêrôin; 05 gói gi y bạc màu trắng bên trong chứa Hêrôin, có tổng trọng lượng là 0,24g (Không phẩy hai tư gam), thu giữ trong t i áo mưa đằng trước bên phải treo trong phòng của T; 01 điện thoại di đ ng màu đen cam có chữ LAND ROVER; 01 điện thoại di đ ng màu đen đỏ có chữ MASSTEL; 01 điện thoại di đ ng màu đen AUX; 01 điện thoại di đ ng màu đen trắng NOKIA; 01 điện thoại di đ ng màu đen đỏ VIETTEL đều đã qua sử dụng, 01 máy tính bảng màu đen trắng, máy cũ đã qua sử dụng, và 1.071.000đ (M t triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) thu giữ trong t i quần bên phải đằng trước mà T đang mặc. T t cả các vật chứng trên đã được niêm phong theo đ ng quy định pháp luật.
Ngày 18/5/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 72 đối với vật chứng của vụ án. Tại bản Kết luận giám định số 93/GĐMT ngày ngày 31 tháng 5 năm 2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi đến giám định là chất ma túy, loại ma túy: Heroine. (Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT: 20, Nghị định số: 82/2013/NĐ-CP, ngày 19/7/2013 của Chính phủ").
Trước Cơ quan điều tra, Lê Trọng T khai nhận như sau:
Do bản thân sử dụng ma t y nên khoảng 16 gi , ngày 03 tháng 5 năm 2017, T m t mình đi ra khu vực Bến xe khách thành phố CB, tỉnh Cao Bằng để tìm mua Hêrôin để sử dụng. Tại đây, T gặp m t ngư i đàn ông khoảng 30 tuổi (Không biết tên, địa chỉ) và hỏi mua Hêrôin với ngư i này giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Ngư i này đồng ý bán. T đưa cho ngư i đàn ông 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), ngư i này cầm tiền rồi l y từ trong ngư i ra đưa lại cho T 05 gói Hêrôin được gói bằng gi y bạc màu trắng. Sau khi trao đổi xong, ngư i đàn ông này đi đâu không biết, còn T cầm 05 gói Hêrôin về phòng trọ thu c Tổ H, phư ng HG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng, rồi mở cả 05 gói Hêrôin ra chia thành 08 gói nhỏ Hêrôin, trong đó có 05 gói được gói bằng gi y bạc màu trắng và 03 gói được gói bằng gi y bạc màu vàng, t t cả cho vào trong m t t i nilon màu hồng, c t gi u vào trong t i áo mưa treo trên tư ng trong phòng thuê trọ, mục đích để sử dụng dần cho bản thân. Đến ngày 04/5/2017, khi T đang ở tại phòng trọ thì có Nguyễn Văn K là bạn của T đến chơi nên T đã l y 01 gói Hêrôin gói bằng gi y bạc màu vàng ra để cùng K sử dụng. Khi vừa sử dụng xong thì công an đến bắt quả tang thu giữ toàn b vật chứng như đã nêu ở trên.
Hành vi trên đây của Lê Trọng T đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố về t i Tàng trữ trái phép ch t ma t y theo quy định tại khoản 1 Điều 194 B luật hình sự.
Trong vụ án này, về nguồn gốc số Hêrôin Lê Trọng T khai nhận được mua với m t ngư i đàn ông không rõ tên, địa chỉ tại khu vực Bến xe khách thành phố CB, tỉnh Cao Bằng. Việc trao đổi, mua bán không có ai biết. Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra xác minh nếu có đủ căn cứ sẽ xử lý trong m t vụ án khác.
Tại bản Cáo trạng số 56/KSĐT-MT ngày 07/8/2017 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Lê Trọng T vÒ téi "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bé luËt h×nh sù.
Tại phiên tòa bị cáo Lê Trọng T thừa nhận hành vi phạm t i của mình đ ng như n i dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nh t trí với trọng lượng ma t y bị thu giữ và n i dung bản kết luận giám định số 93/GĐMT ngày 31 tháng 5 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị H i đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 B luật hình sự, tuyên bố bị cáo Lê Trọng T phạm téi "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Đề nghị xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 mảnh gi y bạc đã bị đốt cháy xém và phong bì niêm phong tang vật cân ghi vụ Lê Trọng T; Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 05 điện thoại di đ ng và 01 máy tính bảng màu đen trắng, trả lại cho bị cáo số tiền 1.071.000đ (M t triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với l i luận t i của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng. Khi được nói l i sau cùng, bị cáo đề nghị H i đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nh t.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, H i đồng xét xử xét th y như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và l i khai của bị cáo tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định: Hồi 15 gi 40 phút, ngày 04 tháng 5 năm 2017 tại phòng trọ của Lê Trọng T thu c Tổ H, phư ng HG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác đ i Cảnh sát điều tra t i phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang Lê Trọng T có hành vi tàng trữ trái phép 0,24g (Không phẩy hai tư gam) Hêrôin. Số ma t y này T mua với m t ngư i đàn ông không quen biết tại Bến xe khách thành phố CB với giá là 500.000 đồng nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chế đ đ c quyền quản lý của nhà nước về các ch t ma t y, gây m t trật tự trị an, an toàn xã h i và gây ra tâm lý hoang mang lo ngại trong quần ch ng nhân dân. Bị cáo có trình đ học v n lớp 06/12 phổ thông, là ngư i có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã h i và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố c u thành t i “Tàng trữ trái phép ch t ma t y”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về t i “Tàng trữ trái phép ch t ma túy” theo khoản 1 Điều 194 B Luật hình sự là có căn cứ và đ ng ngư i, đ ng t i.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân không tốt: Ngày 06/11/2001, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 năm tù về t i Cướp tài sản. Mặc dù bị cáo chưa thi hành khoản tiền án phí của bản án này nhưng có lỗi của cơ quan thi hành án là chưa ra quyết định thi hành án chủ đ ng đối với bị cáo, do đó, h i đồng xét xử không áp dụng tình tiết tăng nặng "tái phạm" đối với bị cáo. Ngoài ra, ngày 17/7/2009 bị cáo bị Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai ra Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm t i của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là "Thành khẩn khai báo" quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 B luật hình sự. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Ngoài hình phạt chính, theo khoản 5 Điều 194 B luật hình sự bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét th y bị cáo là con nghiện, không có nghề nghiệp ổn định, do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
H i đồng xét xử xét th y mức đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo hoàn toàn phù hợp, tương xứng với tính ch t, mức đ hành vi phạm t i của cáo nên cần được ch p nhận. Xét th y cần áp dụng quy định có lợi cho bị cáo theo điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14, khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 B luật hình sự năm 2015 để xét xử bị cáo Lê Trọng T với khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù.
Đối với Nguyễn Văn K là ngư i cùng T sử dụng Hêrôin, quá trình điều tra xác minh, K không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép ch t ma t y của T. Do vậy, ngày 27/7/2017, cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K bằng hình thức cảnh cáo là đ ng pháp luật.
Về xử lý vật chứng và tài sản:
Vật chứng thu giữ là vật nhà nước c m lưu hành cần tịch thu tiêu hủy, gồm có: M t phong bì niêm phong 01 mảnh gi y bạc đã bị đốt cháy xém; 01 phong bì niêm phong tang vật cân ghi vụ Lê Trọng T.
Các đồ vật, tài sản mặc dù không liên quan đến hành vi phạm t i của bị cáo nhưng tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu được trả lại, do đó, cần tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước, gồm có: 01 điện thoại di đ ng màu đen cam nhãn hiệu LAND ROVER; 01 điện thoại di đ ng màu đen đỏ nhãn hiệu MASSTEL; 01 điện thoại di đ ng màu đen nhãn hiệu AUX; 01 điện thoại di đ ng màu đen trắng nhãn hiệu NOKIA; 01 điện thoại di đ ng màu đen đỏ nhãn hiệu VIETTEL, 01 máy tính bảng màu đen trắng.
Số tiền 1.071.000đ (M t triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) là tiền bị cáo lao đ ng mà có, không liên quan đến hành vi phạm t i của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Trọng T phạm t i "Tàng trữ trái phép ch t ma túy".
Áp dụng: Khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 B luật hình sự năm 1999 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2009); điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14, khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 B luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Lê Trọng T 20 (Hai mươi) tháng tù. Th i gian ch p hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 04/5/2017.
2. Về xử lý vật chứng và tài sản:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 B luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76 B luật tố tụng hình sự, xử:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ M t phong bì niêm phong 01 (M t) mảnh gi y bạc đã bị đốt cháy xém ghi vụ: Lê Trọng T, sinh năm 1980.
+ 01 (m t) phong bì niêm phong tang vật cân ghị vụ: Lê Trọng T sinh năm 1980. HKTT: Thôn HN, xã HT, HH, Thanh Hóa. Tàng trữ trái phép ch t ma túy.
- Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước:
+ M t phong bì niêm phong 01 (M t) điện thoại di đ ng màu đen cam, nhãn hiệu LAND ROVER ghi vụ: Lê Trọng T sinh năm 1980.
+ M t phong bì niêm phong 01 (M t) điện thoại di đ ng màu đen đỏ nhãn hiệu Masstel ghi vụ: Lê Trọng T sinh năm 1980.
+ M t phong bì niêm phong 01 (M t) điện thoại di đ ng màu đen nhãn hiệu AUX ghi vụ: Lê Trọng T.
+ M t phong bì niêm phong 01 (M t) điện thoại màu đen trắng nhãn hiệu NOKIA ghi vụ: Lê Trọng T sinh năm 1980.
+ M t phong bì niêm phong 01 (M t) điện thoại màu đen đỏ nhãn hiệu VIETTEL ghi vụ: Lê Trọng T sinh năm 1980.
+ M t phong bì niêm phong 01 (M t) máy tính bảng màu đen trắng.
- Trả lại cho bị cáo: 01 (M t) phong bì niêm phong 1.071.000đ (M t triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) ghi vụ: Lê Trọng T, sinh năm 1980, HKTT: Thôn HN, xã HT, HH, Thanh Hóa, nhưng cần tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án.
Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/7/2017.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 99 B luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử bu c bị cáo Lê Trọng T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo:
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. N¬i nhËn
tm héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
- Tòa án tØnh Cao Bằng;
thÈm ph¸n-chñ to¹ phiªn toµ
- Công an tỉnh Cao Bằng;
- Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
- Công an TP Cao Bằng;
- Thi hành án DS TP Cao Bằng;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn.
Đinh Thị Hoài Phương