- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V phạm tội vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đư…"
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 202 Bộ luật Hình sự
| HUYỆN!BÌNH!XUYÊN! TỈNH!VĨNH!PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 64/2017/HSST Ngày 15 tháng 11 năm 2017 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!BÌNH!XUYÊN!-!TỈNH!VĨNH!PHÚC!
Với!thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!sơ!thẩm!gồm!có:!
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Trọng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Khôi và ông Nguyễn Quang Thái.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hoàng Tuấn Mạnh - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 73/2017/HSST ngày 25 tháng 10 năm 2017, đối với bị cáo:
Nguyễn!Văn!V, sinh ngày 01 tháng 10 năm 1991; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; con ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Đ; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ 24 tháng 8 năm 2017 đến nay, (có mặt). !
Người!bị!hại:
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1984 (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1986 (là vợ của anh T), cư trú tại: Thôn N, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).
Người!có!quyền!lợi,!nghĩa!vụ!liên!quan:
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965 (là bố đẻ của bị cáo V); cư trú tại: Thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội, (có mặt).
- Chị Lương Thị H, sinh năm 1976; cư trú tại: Thôn N, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
NHẬN!THẤY:
Bị cáo Nguyễn Văn V bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 22 giờ ngày 18 tháng 7 năm 2017 Nguyễn Văn V không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 29Z1 – 073.57 loại xe Honda Airblade, dung tích xi lanh 108cm3, đi đến Quốc lộ 2A, là đường có 2 chiều đường riêng biệt, có dải phân cách cứng ở giữa để phân chia giữa 2 chiều đường. V điều khiển xe đi vào đường 1 chiều
1
hướng thành phố Vĩnh Yên đi Phúc Yên nhưng Vương đi ngược chiều đường theo hướng thị xã Phúc Yên đi thành phố Vĩnh Yên và đi ở làn đường trong cùng giáp lề đường thì phát hiện phía trước cách khoảng 10m đến 15m có 01 xe mô tô Biển kiểm soát 88B1 – 013.81 loại xe Honda Lead do anh Nguyễn Văn T điều khiển theo hướng thành phố Vĩnh Yên đi thị xã Phúc Yên và cũng đi làn ngoài cùng bên trái. Do không kịp xử lý nên phần đầu xe mô tô do V điều khiển đã đâm vào phần đầu xe mô tô do anh T điều khiển làm cả 2 xe và người bị đổ, ngã xuống đường. Hậu quả: Anh T bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Phúc Yên sau đó chuyển đi Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức Hà Nội cấp cứu, đến ngày 21 tháng 7 năm 2017 thì tử vong. V bị thương tích nhẹ đưa đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa khu vực Phúc Yên sau đó ra viện về nhà điều trị, đến nay đã bình phục.
Sau khi xảy ra vụ tai nạn giao thông, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Xuyên đã tiến hành vẽ sơ đồ hiện trường, chụp ảnh, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn, khám nghiệm tử thi theo đúng qui định của pháp luật và các bên liên quan không có ý kiến gì.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 156/TT ngày 07 tháng 8 năm 2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc đối với anh Nguyễn Văn Thành kết luận: "1.! Dấu! hiệu! chính! qua! giám! định:! Nhiều! vết! xây! sát! da,! ít! vết! mổ.! Chấn! thương!sọ!não!nặng,!lỗ!khuyết!xương!sọ!vùng!đỉnh!đầu,!tổ!chức!não!dập!nát!và! nhiễm!khuẩn.!
2.!Nguyên!nhân!tử!vong:!Chấn!thương!sọ!não!nặng!không!hồi!phục."!
Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Xuyên đã tạm giữ 02 xe mô tô liên quan đến vụ tai nạn; 01 mũ bảo hiểm màu đỏ; 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Nguyễn Văn T do chị Nguyễn Thị H là vợ anh T giao nộp; 01 đăng ký xe mô tô Biển kiểm soát: 29Z1 - 073.57 mang tên Nguyễn Văn V.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 22 tháng 7 năm 2017 gia đình nạn nhân Nguyễn Văn T đã họp gia đình thống nhất ủy quyền cho chị Nguyễn Thị H là vợ anh T đại diện thay mặt gia đình tham gia tố tụng để giải quyết những vấn đề liên quan đến bị hại Nguyễn Văn T. Sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo V đã nhờ gia đình đến nhà nạn nhân Nguyễn Văn T để hỏi thăm, xin lỗi và tự nguyện bồi thường cho gia đình anh T số tiền 100.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, chị H không yêu cầu V phải bồi thường gì thêm cho gia đình, đồng thời có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho V.
Tại bản Cáo trạng số 73/KSĐT-TA ngày 23 tháng 10 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên đã truy tố Nguyễn Văn V về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 202 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đối với Nguyễn Văn V; sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù. Áp dụng khoản 1 Điều 41, Điều 42 Bộ luật
2
Hình sự; khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự; các Điều 584, 585, 589 và 591 Bộ luật Dân sự 2015:
Xác nhận Nguyễn Văn V cùng gia đình đã bồi thường cho gia đình bị hại anh Nguyễn Văn T số tiền là 100.000.000 đồng và bồi thường cho chị Lương Thị H tiền sửa chữa xe mô tô là 20.000.000 đồng theo thỏa thuận.
Trả lại chiếc xe mô tô Honda Airblade BKS: 29Z1-073.57 và giấy đăng ký xe cho bị cáo Nguyễn Văn V.
Tịch thu, tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm đã cũ hỏng, những mảnh vỡ nhựa cơ quan điều tra đã thu giữ khi khám nghiệm trường và 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Nguyễn Văn T do không có giá trị sử dụng.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,
XÉT!THẤY:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, bị cáo khai nhận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 18 tháng 7 năm 2017, tại Km 19 + 950 Quốc lộ 2A thuộc địa phận phố Kếu, xã Đạo Đức, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc Nguyễn Văn V không có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 theo quy định, đã điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 29Z1 – 073.57 không chấp hành biển báo đã đi không đúng chiều đường (đoạn đường 1 chiều hướng thành phố Vĩnh Yên đi Phúc Yên nhưng V điều khiển xe đi ngược chiều đường theo hướng thị xã Phúc Yên đi thành phố Vĩnh Yên), phần đường nên đã gây tai nạn với xe mô tô Biển kiểm soát 88B1 - 013.81 do anh Nguyễn Văn T điều khiển đang đi đúng chiều đường. Hậu quả: Anh T bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa khu vực Phúc Yên sau đó chuyển đi Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức Hà Nội cấp cứu, đến ngày 21 tháng 7 năm 2017 thì tử vong.
Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, sơ đồ vụ tai nạn, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện giao thông có liên quan đến việc tai nạn; biên bản khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y, bản ảnh chụp tại hiện trường cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Hành vi của Nguyễn Văn V điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô đi ngược chiều, không đúng làn đường đường đã vi phạm khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ quy định về quy tắc giao thông và biển báo giao thông gây tai nạn giao thông làm một người chết.
Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của Nguyễn Văn V đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”; tội danh được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ ba năm đến mười năm.
3
Bị cáo đã phạm tội rất nghiêm trọng, xâm phạm trật tự quản lý giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng người khác, ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương. Nguyên nhân chủ yếu là do ý thức chấp hành Luật giao thông đường bộ của những người điều khiển phương tiện giao thông còn kém. Đấu tranh với các hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông nói chung trong đó có an toàn giao thông đường bộ nói riêng nhằm thiết lập lại trật tự, an toàn cho xã hội là cần thiết.
Xét nhân thân bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy rằng: Bị cáo được hưởng ba tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và hai tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự là bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo; thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo đã tác động để bố đẻ bị cáo là ông Nguyễn Văn T bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại. Người bị hại cũng có một phần lỗi đi không đúng làn đường dành cho xe mô tô. Đối với vụ án này tai nạn xảy ra do lỗi vô ý, sau khi xảy ra tai nạn bị cáo và gia đình đã đến thăm hỏi động viên gia đình người bị hại nên người đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do đó Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ này theo khoản 2 Điều 46 cho bị cáo.
Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự và bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, do đó cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Tuy nhiên như đã phân tích ở trên hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì vậy cần phải cách ly bị cáo khỏi cuộc sống cộng đồng ở ngoài xã hội để chấp hành hình phạt tù tại Trại giam như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp, đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay.
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại là chị H (vợ anh T) yêu cầu bị cáo bồi thường tiền viện phí, mai táng phí, tiền hỗ trợ nuôi con tổng cộng 100.000.000 đồng. Quá trình điều tra bị cáo V đã nhờ ông T là bố đẻ đến gia đình nạn nhân Nguyễn Văn T để hỏi thăm, xin lỗi và tự nguyện bồi thường gia đình anh T số tiền 100.000.000 đồng. Tại phiên toà bị cáo và ông T khẳng định đã bồi thường xong, chị H trình bày đã nhận đủ số tiền 100.000.000đồng nhưng các bên không nhớ ngày giao tiền, không viết giấy tờ và đều không có ý kiến gì khác về phần bồi thường, xét thoả thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên cần ghi nhận.
Đối với chiếc xe Honda Lead Biển kiểm soát: 88B1-013.81 qua điều tra xác định là của chị Lương Thị H. Ngày 18 tháng 7 năm 2017 anh T đã mượn xe của chị H sau đó bị tai nạn khiến chiếc xe bị hư hỏng. Ngày 23 tháng 10 năm 2017, giữa chị H và ông T (bố bị cáo V) đã thỏa thuận bồi thường số tiền 20.000.000 đồng để sửa chữa xe, sau khi nhận tiền chị H không đề nghị các cơ quan tố tụng tiếp tục giải quyết về thiệt hại đối với chiếc xe trên. Xét thoả thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên cần ghi nhận.
Tại phiên tòa ông T khẳng định, số tiền 120.000.000 đồng mà ông đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của người bị hại và cho chị H là tiền của ông
4
cho bị cáo V và ông không yêu cầu bị cáo V phải trả lại số tiền này nên Hội đồng xét xử không xét.
Về vật chứng vụ án:
Ngày 23 tháng 10 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên đã ra Quyết định trả lại xe cho chị Lương Thị H. Sau khi nhận lại xe, chị H không đề nghị giải quyết gì thêm nên Tòa không xét.
Đối với chiếc xe mô tô Honda Airblade BKS: 29Z1-073.57 và giấy đăng ký xe quá trình!điều tra xác định là của Nguyễn Văn V cần trả lại cho V là phù hợp.
Đối với 01 mũ bảo hiểm đã cũ hỏng không có giá trị sử dụng, những mảnh vỡ nhựa cơ quan điều tra đã thu giữ khi khám nghiệm trường, 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Nguyễn Văn T xét thấy cần tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì!các!lẽ!trên,
QUYẾT!ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 01!(Một) năm 06 (Sáu) tháng tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 24 tháng 8 năm 2017.
Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 589 và 591 Bộ luật Dân sự 2015:
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về bồi thường thiệt hại dân sự giữa bị cáo Nguyễn Văn V với người đại diện hợp pháp của gia đình người bị hại số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Xác nhận người đại diện hợp pháp của gia đình bị hại là chị Nguyễn Thị H (vợ anh T) đã nhận đủ số tiền 100.000.000đồng (Một trăm triệu đồng).
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Nguyễn Văn V với chị Lương Thị H về bồi thường thiệt hại tài sản do chiếc xe máy bị hư hỏng số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Xác nhận chị H đã nhận đủ số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại cho bị cáo V xe mô tô Honda Airblade Biển kiểm soát: 29Z1-073.57 và giấy đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Văn V.
Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm đã cũ hỏng không có giá trị sử dụng, một số mảnh nhựa vỡ cơ quan điều tra đã thu giữ khi khám nghiệm trường, 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Nguyễn Văn T không còn giá trị sử dụng. Tất cả vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên lập ngày 09 tháng 11 năm 2017.
5
Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
!!!!!!! Nơi nhận:!
!!!!!!!!!TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!
- VKSND huyện Bình Xuyên;
!!!!!!!!!!Thẩm!phán!–!Chủ!tọa!phiên!tòa!
- CA huyện Bình Xuyên;
!
- Bị cáo;
- Chi cục THADS huyện Bình Xuyên;
!
- Lưu HSVA + VP.
!!!!!!!!!
!!!!!!Nguyễn!Xuân!Trọng!
6
Các!Hội!thẩm!nhân!dân!
Thẩm!phán!–!Chủ!tọa!phiên!tòa! !!!!Nguyễn!Quang!Thái!!
Trần!Khôi!
!Nguyễn!Xuân!Trọng!
7
Nơi nhận:
TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!
Thẩm!phán!–!Chủ!tọa!phiên!tòa!
- VKSND huyện Bình Xuyên;
- CA huyện Bình Xuyên;
!
- Chi cục THADS huyện Bình Xuyên;
!
- UBKT huyện ủy Lập Thạch (để biết);
!!
- Bị cáo;
- Lưu HS, VP.
!
Nguyễn!Xuân!Trọng!
Các!Hội!thẩm!nhân!dân!
Thẩm!phán!–!Chủ!tọa!phiên!tòa!
8
Nguyễn!Đức!Tiến!!
Trương!Thị!Hương!Nghĩa!
!Nguyễn!Xuân!Trọng!
| Nơi nhận:!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM - VKSND huyện Bình Xuyên; - CA huyện Bình Xuyên; - Chi cục THADS huyện Bình Xuyên; - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của người bị hại; - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - Lưu HS, VP. ! 9 Các!Hội!thẩm!nhân!dân! Nguyễn!Quang!Thái!! Phan!Thanh!Minh! 10 Nơi!nhận:!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM - VKS huyện Bình Xuyên; - CA huyện Bình Xuyên; - Chi cục THA Bình Xuyên; - Người tham gia TT; - Lưu HS, VP. ! 11 12 13 14 | THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA Nguyễn!Xuân!Trọng! Thẩm!phán!–!Chủ!tọa!phiên!tòa! !Nguyễn!Xuân!Trọng! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA Nguyễn!Vĩnh!Thành! |