vanban.org

Bản án 638/2019/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 23/10/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoái Phước T; giữ nguyên quyết định về phần hình phạt của bản án sơ thẩm số 198/2019/HS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh như sau:

Bị cáo Đoái Phước T phạm tội “Giết người”. Xử phạt: Đoái Phước T 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đoái Phước T phạm tội “Giết người” - phạm tội giết người (điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoái Phước T; giữ nguyên quyết định về phần hình phạt của bản án sơ thẩm số 198/2019/HS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 638/2019/HS-PT
Ngày 23 - 10 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng

Các Thẩm phán:

Ông Đặng Quốc Khởi

Ông Hoàng Minh Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Lê Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 393/2019/TLPT-HS ngày 22 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo Đoái Phước T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 198/2019/HS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử 3931/2019/QĐXXPT-HS ngày 17 tháng 9 năm 2019, đối với:

-Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Đoái Phước T; Giới tính: Nam; Sinh năm 1984 tại tỉnh Cà Mau; hộ khẩu thường trú: khóm A, thị trấn G, huyện H, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: A đường B, khu phố D, phường B, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoái Hồng P và bà Nguyễn Thị B; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ là bà Nguyễn Thị Nhật M (bị hại trong vụ án), chưa có con; Tiền án, tiền sự: không;

Bị tạm giữ, tạm giam ngày: 13/4/2017 - Có mặt.

- Người bào chữa: Ông Đoàn Trọng Nghĩa - Luật sư chỉ định, Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đoái Phước T và bà Nguyễn Thị Nhật M là vợ chồng cùng trú tại địa chỉ số A đường B, khu phố D, phường B, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tối ngày 10/4/2017, Đoái Hoàng N là em ruột của Đoái Phước T điện thoại hỏi mượn nhà của T để mời bạn về uống bia, T nói với M biết và M đồng ý. Sau đó, T chở M đi ăn, ăn xong T đi uống bia cùng bạn bè (gồm Nguyễn Bảo Khang, Huy, Thọ) còn M cũng đi chơi với nhóm bạn khác của M.

Khoảng 23 giờ, ngày 10/4/2017, N rủ bạn bè về nhà T để uống bia. Đến 24 giờ cùng ngày, M đi xe máy về nhà thì có người trong nhóm của N dẫn xe vào. Khi M vào nhà thì có người mời cùng ăn lẩu nhưng M từ chối và đứng ngay chân cầu thang cười nói cả nhóm nhậu đi rồi đi lên phòng với thái độ bình thường. M lên phòng được khoảng 20 phút thì M lại đi ra ngoài và có người trong nhóm nhậu lại dẫn xe cho M, khoảng 15 phút sau thì M quay về không nói gì rồi đi từ từ lên phòng, không có biểu hiện gì khác.

Sau khi M về nhà một lát thì T về nhà và đi thẳng lên lầu, còn nhóm của Khang cũng tới nhà của T và nhập chung với nhóm của N. Về phía T lên lầu được khoảng 10 phút thì xuống dưới nhà rồi cùng nhóm của Khang và nhóm của N.

Trong lúc ăn uống do nhóm của N có mở nhạc loa mini âm thanh lớn, gây ồn ào nên M đứng trên cầu thang nói “Nghỉ nhậu đi, ồn ào quá, có nhậu thì đi chỗ khác mà nhậu”. Ngay sau đó mọi người đứng lên dọn dẹp rồi đi về. Do tức giận và tự ái vì M làm mất mặt với bạn bè, nên T đi từ dưới nhà lên lầu hỏi M vì sao đã cho mượn nhà để tổ chức ăn uống lại đuổi mọi người về, dẫn đến hai vợ chồng cự cãi nhau. T đứng đối diện M, M đứng cách bức tường trong phòng khoảng hơn 60cm. Trong lúc cãi nhau, T xô mạnh M làm vai và đầu M va đập vào tường nhưng không làm M té ngã. T không nhớ trong lúc cãi nhau với vợ có đấm, đá vào M hay không nhưng sau đó thì không cãi nhau nữa, T đi xuống nhà. Khi T quay lưng bước ra ngoài cửa thì M tiếp tục đuổi theo thách thức T đánh M nên T quay người lại dùng hai tay đẩy mạnh vào vai M làm M té ngã ngửa về phía sau, hai chân đưa lên, đầu đập vào tường nghe âm thanh gây tiếng “cộp” và trượt xuống sàn nhà trúng vào ổ cắm điện có hai thiết bị sạc đang cắm trên ổ điện. M sau khi bị xô ngã thì ngồi dậy ôm mặt khóc còn T bỏ đi xuống dưới nhà khóa cửa lại.

T khóa cửa xong quay lên phòng ngủ thì thấy M đang ôm gối nằm ngửa. T nằm bên cạnh và mở máy tính bảng xem phim hài. Trong lúc xem T nghe M nói “Mở nhỏ thôi để người ta ngủ”. Khoảng 02 giờ, ngày 11/4/2017, T quay sang thì thấy M nằm bất động, T liền bế xốc M trên tay từ trên lầu đi xuống nhà, T khai: trong lúc xuống đầu thang thì vùng đầu của M va nhiều lần vào tường, hai chân, tay va vào lan can cầu thang, khi xuống đến tầng trệt T đặt M nằm xuống nền nhà, để đầu va xuống nền đất khá mạnh. Sau đó, T gọi xe taxi đưa M đến Bệnh viện Quân dân y miền Đông để cấp cứu nhưng M đã chết trước khi nhập viện.

Theo Bản kết luận giám định pháp y tử thi số: 449/TT.17 ngày 06/5/2017 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định và kết luận như sau:

1. Về phần giám định:

- Khám ngoài: có các dấu vết thương tích tại đầu, mặt, cổ: sây sát da vùng thái dương trái, bầm tụ máu tại vùng đỉnh chẩm, vùng thái dương đỉnh phải, vùng trán đỉnh phải, vùng trán phải, vùng trán trái, mí trên mắt trái, sống mũi, gò má trái, sây sát da mí dưới mắt phải; tại thân: bầm tụ máu kèm sây sát da vùng hông lưng phải, tại tứ chi: bầm tụ máu rải rác mặt sau khuỷu tay trái, bầm tụ máu kèm sây sát da mặt sau ngoài khuỷu tay phải, bầm tụ máu tại: mặt trước cẳng chân phải, mặt trước gối trái, mặt trên ngoài gối trái, mặt trước cẳng chân trái, mặt sau đùi trái, mặt sau cẳng chân trái, gót chân trái và sây sát da mặt trong cổ chân trái.

- Khám trong: tại đầu, mặt, cổ: bầm tụ máu dưới da đầu trán – đỉnh – thái dương phải và rải rác vùng thái dương đỉnh trái, tụ máu trong cơ thái dương phải, hộp sọ không nứt vỡ, tụ máu dưới màng cứng vùng thái dương – đỉnh phải, xuất huyết dưới nhện lan tỏa hai bán cầu đại não và tiểu não, không tụ máu dưới da và trong cơ vùng cổ, xương khớp và các sụn vùng cổ không dập gãy; tại ngực: không tụ máu dưới da và trong cơ, các xương không dập gãy, hai khoang màng phổi sạch, hai phổi phù, tim không dập vỡ; tại bụng: ổ bụng sạch, các tạng không dập vỡ, dạ dày chứa thức ăn và dịch nâu đỏ, niêm mạc dạ dày xung huyết, lòng tử cung có ít máu đỏ sẩm; tứ chi: xương khớp không dập gãy.

- Ghi chú:

+ Các tổn thương sây sát vùng thái dương trái, mặt trong cổ chân trái,

bầm tụ máu vùng đỉnh chẩm, thái dương đỉnh phải và trán đỉnh phải là các tổn thương mới;

+ Các tổn thương bên ngoài là tổn thương cũ.

2. Về phần kết luận:

- Dấu hiệu chính qua giám định:

Dấu hiệu chính khi khám nghiệm: sây sát da mới tại vùng thái dương trái và mặt trong cổ chân trái, bầm tụ máu mới vùng đỉnh chẩm, thái dương đỉnh phải và trán đỉnh phải, các tổn thương sây sát da, bầm tụ máu cũ rải rác nhiều vùng trên cơ thể, tụ máu dưới da đầu và trong cơ thái dương phải, tụ máu dưới màng cứng vùng thái dương – đỉnh phải, xuất huyết dưới nhện lan tỏa, hai phổi phù.

- Nguyên nhân chết: chấn thương sọ não do đầu va đập vào vật tày nhiều lần/Đa chấn thương phần mềm.

Ngày 03/11/2017, Trung tâm pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh có Văn bản số: 449/TT.17-GT.17 ngày 03/11/2017 về việc giải thích cơ chế hình thành vết thương Nguyễn Thị Nhật M với nội dung: “Thái dương bên phải của bị hại khi ngã nghiêng đơn thuần như trình bày trong các biên bản mà Cơ quan cảnh sát điều tra cung cấp không thể gây ra tình trạng xuất huyết dưới nhện lan tỏa hai bán cầu đại não và tiểu não như thể hiện trong bản ảnh và Bản kết luận giám định pháp y tử thi của bị hại đã mô tả. Đồng thời các thương tích bên ngoài của vùng đầu bị hại ở nhiều vị trí khác nhau như mô tả trong trang 2 của Bản kết luận giám định là do tác động nhiều lần bằng vật tày, không thể do té ngã va đập một lần gây ra như lời khai của Đoái Phước T. Tất cả các thương tích bầm tụ máu, sây sát da bên ngoài trên người bị hại là do vật tày tác động vào cơ thể hoặc ngược lại. Vật tày là những vật có bề mặt tròn hoặc tù (tức là không sắc, không nhọn, không có cạnh sắc). Ví dụ: mặt bàn, tường, mặt đường…”

Ngày 21/11/2018, Trung tâm pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số: 449-GT3/TgT.17 giải thích pháp y như sau:

1. Nạn nhân Nguyễn Thị Nhật M bị xô ngã ngửa, hai chân đưa lên, đầu đập vào tường và ngã xuống sàn nhà, đầu trúng hai thiết bị sạc đang cắm trên ổ điện (như lời khai của Đoái Phước T) không thể gây ra các dấu vết, thương tích như tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi.

Với các thương tích gây tụ máu dưới màng cứng và xuất huyết dưới nhện lan tỏa hai bán cầu đại não, khoảng thời gian tử vong có thể tử vong ngay trước nhập viện cho đến 30 ngày sau khi nhập viện.

Theo diễn biến nội dung vụ án nêu trên, thời gian tử vong của nạn nhân có thể tử 01 giờ – 04 giờ sáng ngày 11/4/2017.

2. Thời gian hình thành các dấu vết, thương tích trên người nạn nhân đến khi chết.

- Đầu - mặt - cổ:

+ Các vết sây sát da vùng thái dương trái, bầm tụ máu vùng đỉnh chẩm, thái dương đỉnh phải và trán đỉnh phải là các dấu vết mới hình thành trước chết.

+ Các vết bầm tụ máu vùng trán phải, trán trái, mí trên mắt trái, sống mũi, gò má trái và vết sây sát ở mí dưới mắt phải là những vết thương cũ, hình thành tại các thời điểm khác nhau, cách thời gian tử vong trên 24 giờ.

- Thân: Vết bầm tụ máu kèm say sát da vùng hông hưng phải là dầu vết mới hình thành trước chết.

- Tứ chi:

+ Vết sây sát mặt trong cổ chân trái là dấu vết mời hình thành trước chết.

+ Các vết bầm tụ máu và sây sát còn lại tại tứ chi là những vết thương cũ, hình thành tại các thời điểm khác nhau, cách thời gian nạn nhân tư vong trên 24 giờ.

3. Trong các nguyên nhân chết của nạn nhân Nguyễn Thị Nhật M, nguyên nhân chính là chấn thương sọ não. Những dấu vết, thương tích gây ra chân thương sọ não cho nạn nhân:

- Bầm tụ máu vùng đỉnh chẩm kích thước 2,2x2,5cm.

- Bầm tụ máu vùng thái dương đỉnh phải kích thước 3,7x6cm.

- Bầm tụ máu vùng trán đỉnh trái kich thước 3x4cm.

4. Trong trường hợp nạn nhân Nguyễn Thị Nhật M đã chết trước đó, khi T bế nạn nhân xuống cầu thang để đưa đi cấp cứu và để đầu, chân tay nạn nhân va đập vào tường, cầu thang, nền nhà như T trình bày, không có khả năng gây ra các dấu vết, thương tích trên người nạn nhân như tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi mô tả.

5. Không có dấu vết thương tích trên người nạn nhân Nguyễn Thị Nhật M hình thành sau khi nạn nhân chết hoặc gây xuất huyết không tương xứng với mức độ chấn thương bên ngoài da và xương hoặc chấn thương sọ não theo cơ chế đầu cố định.

Ngày 26/11/2018, Trung tâm pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số: 449-GT4/TgT.17 giải thích pháp y nạn nhân Nguyễn Thị Nhật M như sau:

- Nạn nhân bị xô ngã một lần như lời khai của Đoái Phước T không thể gây ra các thương tích gây chấn thương sọ não cho nạn nhân Nguyễn Thị Nhật M như tại Mục 3 Công văn số: 449-GT3/TgT.17.

- Việc Đoái Phước T bồng, bế nạn nhân như lời khai không có khả năng gây ra các thương tích như tại Mục 3 Công văn số: 449-GT3/TgT.17.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 198/2019/HS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân Thành Phố hồ Chí Minh đã tuyên xử:

Tuyên bố:

Bị cáo Đoái Phước T phạm tội “Giết người”.

- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009.

Xử phạt: Đoái Phước T 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2017.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 14/6/2019, bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đồng thời bị cáo đề nghị xem xét lại tội danh và mức hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tùng thì thấy bị cáo không thành khẩn khai báo, vụ án không có đồng phạm, bị hại có nhiều vết thương là do bị cáo gây ra, là nguyên nhân gây ra cái chết cho bị hại. Bị cáo phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 BLHS. Cấp sơ thẩm đã xem xét đấy đủ các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân bị cáo khi lượng hình, mức án là phù hợp.Tại phiên tòa này bị cáo không đưa ra đực tình tiết giảm nhẹ nào mới, đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt của án sơ thẩm.

Bị cáo tranh luận: Bị cáo không cố ý giết bị hại, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ: Gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, cha mẹ bị cáo là người có công với cách mạng.

Luật sư bào chữa cho bị cáo: Về tội danh và khung hình phạt cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng, luật sư không có ý kiến về nội dung này. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như bị cáo nêu, bị cáo có nhân thân tốt, các tình tiết giảm nhẹ đã được cấp sơ thẩm xem xét, tuy nhiên bị cao kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, đề nghị Tòa xem xét theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình gây ra các chết cho bị hại nhưng bị cáo cho rằng bị cáo chỉ xô bị hại hai lần, chị M đập đầu vào tường một lần, bị cáo không cố ý giết bị hại. Tuy nhiên, căn cứ kết luận giám định pháp y và và kết quả điều tra thì thấy bị hại bị nhiều thương tích trên cơ thể, các thương tích trên đầu dẫn đến chấn thương sọ não, các thương tích này là nguyên nhân gây ra cái chết cho nạn nhân. Cơ quan giám định cũng đã kết luận: Nạn nhân bị xô ngã một lần như lời khai của Đoái Phước T không thể gây ra các thương tích gây chấn thương sọ não cho nạn nhân.

Trong vụ án không có đồng phạm nên các thương tích của nạn nhân chỉ do bị cáo gây ra và bị cáo phải chịu trách nhiệm.

Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống hàng ngày bị cáo Đoái Phước T đã dùng vũ lực tấn công bị hại, gây ra cái chết cho bị hại.

Từ đó có đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt thì thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của người là vợ bị cáo, là người gắn bó với bị cáo, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, đã tước đi sinh mạng một con người, gây đau thương tang tóc không gì bù đắp được cho gia đình người bị hại, tác động tiêu cực đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả rất nghiêm trọng mà bị cáo gây ra thì phải xử phạt bị cáo mức hình phạt thật nghiêm minh, cách li bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện và phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa chung.

Quá trình xét xử, cấp sơ thẩm cân nhắc đánh giá nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình, mức án mà cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Vì vậy không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của án sơ thẩm.

Bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự,

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoái Phước T; giữ nguyên quyết định về phần hình phạt của bản án sơ thẩm số 198/2019/HS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2019 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh như sau:

Tuyên bố:

Bị cáo Đoái Phước T phạm tội “Giết người”.

- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009.

Xử phạt: Đoái Phước T 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/4/2017.

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án là ngày 23/10/2019.

Cỡ chữ