vanban.org

Bản án 636/2020/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 08/07/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/07/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà — án dân sự — "Trần Phi L-Công ty Trách nhiệm hữu hạn MNL"
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Kinh doanh bất động sản; Điều 13 Luật Kinh doanh bất động sản; Điều 15 Luật Kinh doanh bất động sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
______________________________
Bản án số: 636/2020/DS-PT

Ngày: 08/7/2020

V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán

căn hộ.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"phúc"thẩm"gồm"có:"

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Lê Thị Hoàng Hoa

Các"Thẩm"phán:"Bà Bùi Thị Kim Dung

Ông Nguyễn Tiến Dũng

"

Thư"ký"phiên"tòa:"Bà Lê Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố

Hồ Chí Minh.

"

Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"tham"gia"phiên"

toà:"Ông Tào Minh Quân - Kiểm sát viên."

Ngày 08 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 277/2020/TLPT-DS, ngày

25 tháng 3 năm 2020 về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 37/2020/DS-ST, ngày 14 tháng 02 năm 2020

của Tòa án nhân dân Quận M.H, Thành phố Hồ Chí Minh bị nguyên đơn ông Trần

Phi L.0 kháng cáo một phần.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2363/2020/QĐXXPT-DS, ngày 25

tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 6008/2020/QĐPT-DS, ngày 18

tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Phi L.0. Sinh năm 1968.

Địa chỉ: 331/49/22 Đường P.I, phường M.B, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn MNL.

Địa chỉ: 64 TN.X1, khu phố B, phường TN, Quận M.H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn An D. Sinh năm 1993.

Địa chỉ: 42/28 Đường H, phường M.H, Quận T.B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người"đại"diện"theo"ủy"quyền: Ông Nguyễn Nhật Tr. Sinh năm 1993.

Địa chỉ: 778 Đường TX, phường H.N, quận B.T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo

Văn bản ủy quyền số 77/2020/GUQ-MNL, ngày 07/7/2020).

(Có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Huỳnh Diễm L. Sinh năm 1973. Địa chỉ: 331/49/22 Đường P.I, phường M.B, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại"đơn"khởi"kiện,"bản"tự"khai,"biên"bản"phiên"họp"kiểm"tra"việc"giao"nộp,"

tiếp"cận,"công"khai"chứng"cứ,"các"biên"bản"hòa"giải"và"tại"phiên"tòa"nguyên"đơn" ông"Trần"Phi"L.0"trình"bày:""

Ngày 25/11/2016 ông L.0 và Công ty TNHH MNL có ký 02 hợp đồng mua

bán căn hộ chung cư số B-12Bis-07/HĐ/MT/2016 và số B-12Bis-04/HĐ/MT/2016. Theo đó, ông L.0 mua của Công ty TNHH MNL 02 căn hộ gồm:

- Căn hộ số B-12Bis-04 thuộc khối nhà B dự án Khu chung cư cao tầng M.T

thuộc thửa đất số 73, 74, 75, 76, 1511, 1512, 78, 79, tờ bản đồ số 46,47 Bộ địa chính phường T.N, Quận M.H (theo tài liệu năm 2004) tọa lạc tại phường T.N, Quận M.H, Thành phố Hồ Chí Minh; diện tích sàn xây dựng 69.90m2; năm hoàn thành xây dựng là 2017; mục đích sử dụng để ở; giá trị căn hộ 1.211.374.320đ; hình thức thanh toán chia thành 17 đợt, đợt 01 khi ký hợp đồng thanh toán 20% giá trị hợp đồng tương đương số tiền 242.274.864đ, 16 đợt còn lại mỗi đợt thanh toán 5% theo tiến độ tương đương số tiền 60.568.716đ/đợt.

- Căn hộ số B-12Bis-07 thuộc khối nhà B dự án Khu chung cư cao tầng M.T

thuộc thửa đất số 73, 74, 75, 76, 1511, 1512, 78, 79, tờ bản đồ số 46, 47 Bộ địa chính phường T.N, Quận M.H (theo tài liệu năm 2004) tọa lạc tại phường T.N, Quận M.H, Thành phố Hồ Chí Minh; diện tích sàn xây dựng 75.21m2; năm hoàn thành xây dựng là 2017; mục đích sử dụng để ở; giá trị căn hộ 1.303.397.176đ; hình thức thanh toán chia thành 17 đợt, đợt 01 khi ký hợp đồng thanh toán 20% giá trị hợp đồng tương đương số tiền 260.679.435đ, 16 đợt còn lại mỗi đợt thanh toán 5% theo tiến độ tương đương số tiền 65.169.858đ/đợt.

Tổng giá trị của 02 hợp đồng là 2.514.771.496 đồng. Ông L.0 đã trả tiền mua

căn hộ theo tiến độ và theo thông báo đóng tiền của Công ty TNHH MNL. Cụ thể:

Từ ngày 26/11/2016 đến ngày 18/12/2018, tổng cộng ông L.0 đã thanh toán

cho Công ty TNHH MNL số tiền là 2.389.032.197 đồng.

Do Công ty TNHH MNL vi phạm nghĩa vụ giao nhà theo hợp đồng, nay ông

L.0 yêu cầu:

- Buộc Công ty TNHH MNL phải bàn giao 02 căn hộ nêu trên cho ông L.0

theo 02 hợp đồng số B-12Bis-07/HĐ/MT/2016 và số B-12Bis-04/HĐ/MT/2016 ngày 25/11/2016 mà hai bên đã ký kết.

2

- Buộc Công ty TNHH MNL phải thanh toán cho ông L.0 số tiền do vi phạm

nghĩa vụ bàn giao 02 căn hộ theo mức lãi suất 9%/năm (theo Quyết định 2868/QĐ-

NHNN, ngày 29/11/2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam), tính từ thời điểm

Công ty TNHH MNL chậm giao nhà (ngày 01/02/2018) cho đến ngày xét xử sơ

thẩm.

Ông L.0 xin rút phần yêu cầu khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH MNL phải

bồi thường tiền do vi phạm nghĩa vụ bàn giao nhà từ ngày 01/01/2018 đến ngày

31/01/2018.

- Ngoài ra Công ty TNHH MNL còn phải tiếp tục bồi thường tiền cho ông

L.0 do vi phạm nghĩa vụ bàn giao 02 căn hộ từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ

thẩm cho đến khi Công ty TNHH MNL bàn giao 02 căn hộ trên cho ông L.0 theo

mức lãi suất 9%/năm trên tổng số tiền ông L.0 đã thanh toán cho Công ty TNHH

MNL.

"

Tại"bản"tự"khai,"biên"bản"phiên"họp"kiểm"tra"việc"giao"nộp,"tiếp"cận,"công"

khai" chứng" cứ," các" biên" bản" hòa" giải" bị" đơn" Công" ty" TNHH" MNL" có" ông"

Nguyễn"An"D"trình"bày:"

Công ty TNHH MNL là chủ đầu tư dự án Khu chung cư cao tầng M.T tại

phường T.N, Quận M.H và được phép ký hợp đồng bán các căn hộ với khách hàng

theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/11/2016, ông Trần Phi L.0 và Công ty TNHH MNL có ký 02 hợp

đồng mua bán căn hộ chung cư M.T số B-12Bis-07/HĐ/MT/2016 và số B-12Bis-

04/HĐ/MT/2016. Tổng giá trị 02 hợp đồng là 2.514.771.496 đồng. Ông L.0 đã

thanh toán cho Công ty TNHH MNL số tiền 2.389.032.197 đồng. Theo hợp đồng,

phía Công ty TNHH MNL phải bàn giao 02 căn hộ cho ông L.0 trong quý 4/2017

hoặc có thể chậm hơn nhưng không quá 01 tháng kể từ thời điểm đến hạn nhận bàn

giao căn hộ. Do điều kiện bất khả kháng (như thời tiết xấu, mưa lớn kéo dài…)

cũng như tiến độ thi công của nhà thầu nên đã làm ảnh hưởng đến tiến độ thi công

cũng như thời gian bàn giao căn hộ. Phía ông L.0 cũng đã có lúc vi phạm nghĩa vụ

thanh toán (chậm thanh toán) nên cũng phần nào ảnh hưởng đến nguồn tài chính

của Công ty TNHH MNL dẫn đến việc thi công chậm tiến độ. Từ tháng 11/2018,

Công ty TNHH MNL đã bắt đầu tiến hành bàn giao các căn hộ cho khách hàng.

Phía Công ty TNHH MNL và ông L.0 chưa thống nhất được số tiền hỗ trợ do chậm

bàn giao nhà và ông L.0 đang khởi kiện Công ty TNHH MNL nên Công ty TNHH

MNL chưa bàn giao 02 căn hộ cho ông L.0. Công ty TNHH MNL không đồng ý

với các yêu cầu khởi kiện của ông L.0. Công ty TNHH MNL chỉ đồng ý hỗ trợ cho

ông L.0 số tiền 10.000.000đ/căn hộ. Nếu ông L.0 đồng ý với số tiền hỗ trợ nêu trên

và rút đơn khởi kiện thì Công ty TNHH MNL sẽ bàn giao 02 căn hộ cho ông L.0.

3

Tại"bản"tự"khai,"biên"bản"phiên"họp"kiểm"tra"việc"giao"nộp,"tiếp"cận,"công"

khai"chứng"cứ,"các"biên"bản"hòa"giải"và"tại"phiên"tòa"người"có"quyền"lợi,"nghĩa" vụ"liên"quan"bà"Huỳnh"Diễm"L"trình"bày:"

Bà Huỳnh Diễm L hoàn toàn đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chồng bà là

ông Trần Phi L.0.

Tại"phiên"toà"sơ"thẩm"đại"diện"Viện"Kiểm"sát"nhân"dân"Quận"M.H,"Thành"

phố"Hồ"Chí"Minh"tham"gia"phiên"tòa"phát"biểu"ý"kiến:""

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký

phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm nghị án, kiến nghị Tòa án rút kinh nghiệm về thời hạn chuẩn bị xét xử.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên

đơn, đình chỉ giải quyết một phần đối với yêu cầu nguyên đơn đã rút.

Án"sơ"thẩm"đã"tuyên:""

1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn:

1.1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Phi L.0 về việc rút yêu cầu

khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH MNL phải bồi thường tiền do vi phạm nghĩa vụ bàn giao nhà từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/01/2018.

1.2. Buộc Công ty TNHH MNL phải thanh toán cho ông Trần Phi L.0 số tiền

do chậm thực hiện nghĩa vụ giao nhà là 407.919.975 đ (Bốn trăm linh bảy triệu chín trăm mười chín ngàn chín trăm bảy mươi lăm đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp

cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Ngoài ra Công ty TNHH MNL còn phải tiếp tục thanh toán tiền cho ông L.0

do vi phạm nghĩa vụ bàn giao 02 căn hộ từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi Công ty TNHH MNL bàn giao 02 căn hộ trên cho ông L.0 theo mức lãi suất 9%/năm trên tổng số tiền ông L.0 đã thanh toán cho Công ty TNHH MNL.

2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Phi L.0 về việc buộc Công ty

TNHH MNL phải bàn giao 02 căn hộ B-12Bis-04 và B-12Bis-07 thuộc khối nhà B dự án Khu chung cư cao tầng M.T tại phường T.N, Quận M.H, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi công trình đủ điều kiện đưa vào sử dụng theo quy định của pháp luật.

4

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương

sự.

Ngày 27/02/2020 ông Trần Phi L.0 kháng cáo một phần bản án dân sự sơ

thẩm với yêu cầu đề nghị cấp phúc thẩm buộc Công ty MNL phải có nghĩa vụ bàn

giao 2 căn hộ mà ông đã ký hợp đồng mua bán với Công ty và tiếp tục bồi thường

thiệt hại cho ông do vi phạm nghĩa vụ chậm bàn giao nhà.

Tại"phiên"tòa"phúc"thẩm:"

Ông L.0 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và nêu số tiền mua bán hợp đồng đã

thanh toán xong, hiện chỉ còn giữ lại số tiền 125.739.299 đồng nhằm trả cho việc

nhận giấy chủ quyền nhà khi bàn giao sổ hồng.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của thẩm phán và hội đồng xét

xử từ giai đoạn thụ lý đến khi nghị án đầy đủ và đúng pháp luật.

Về nội dung vụ án: Phía nguyên đơn có công văn số 953/TB-SXD-QLCLXD,

ngày 21/01/2020 của Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận kết quả

nghiệm thu của Công ty TNHH MNL công trình tòa nhà chung cư cao tầng

Mooscow Tower- Khối B để đưa vào sử dụng, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử buộc

Công ty MNL phải bàn giao nhà cho phía mua nhà.

Đề nghị chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn và chấp nhận toàn bộ bản

án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Phi L.0 đã

thực hiện trong thời hạn luật định nên được cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo để

xem xét.

[2] Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu bị đơn Công ty TNHH MNL

bàn giao 02 căn hộ chung cư theo hợp đồng mua bán căn hộ số B-12Bis-04 và căn

hộ số B-12Bis-07 thuộc khối nhà B dự án Khu chung cư cao tầng M.T tại phường

T.N, Quận M.H, Thành phố Hồ Chí Minh. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy

cấp sơ thẩm đã căn cứ vào hợp đồng quy định về việc bàn giao hai căn hộ chung cư

đã mua nói trên, đã xác định rõ được lỗi của Công ty TNHH MNL chậm trể trong

việc thực hiện hợp đồng và Tòa án cấp sơ thẩm đã cho rằng lý do dẫn đến việc

chậm giao căn hộ mà phía bị đơn đưa ra chưa thuyết phục, nguyên đơn đã thanh

toán cho bị đơn tiền mua nhà tương đương 95% giá trị hợp đồng, phía bị đơn đã

bàn giao một số căn hộ ở khối B cho khách hàng khác nhưng không giao nhà cho

5 nguyên đơn, bị đơn chưa thực hiện xong việc nghiệm thu hoàn thành thi công xây dựng hạng mục công trình, công trình xây dựng theo quy định nên lỗi dẫn đến việc chậm bàn giao căn hộ hoàn toàn thuộc về phía bị đơn.

Do đó, cấp sơ thẩm đã áp dụng quy định tại các Điều 351, 353, 356, 357,

360, 361 của Bộ luật dân sự 2015, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán tiền cho nguyên đơn do vi phạm nghĩa vụ bàn giao 02 căn hộ theo mức lãi suất 9%/năm. Buộc Công ty TNHH MNL phải thanh toán cho ông L.0 là 407.919.975 đ (Bốn trăm lẻ bảy triệu, chín trăm mười chín nghìn, chín trăm bảy mươi lăm đồng). Nhưng sơ thẩm lại nhận định rằng:

Theo thông tin cung cấp tại công văn số 15581/SXD-VP, ngày 29/11/2019

của Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh thì: Công trình xây dựng Khu chung cư cao tầng gồm 02 khối A và B tại phường T.N, Quận M.H do Công ty TNHH MNL làm chủ đầu tư, thi công xây dựng theo Giấy phép xây dựng số 138/GPXD, ngày 27/8/2015 và Phụ lục điều chỉnh Giấy phép xây dựng số 34/PLGPXDĐC, ngày 16/02/2017 do Sở Xây dựng cấp. Công trình đã thi công xây dựng hoàn thành đối với tầng hầm, lửng hầm, lầu 1 đến lầu 14; khu thương mại tại tầng hầm và tầng lửng của 02 khối A và B chưa hoàn thành. Thanh tra Sở Xây dựng đã lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính liên quan đến công tác nghiệm thu hoàn công công trình. Công trình chưa được Sở Xây dựng ban hành văn bản thông báo chấp thuận kết quả nghiệm thu hoàn thành thi công xây dựng hạng mục công trình, công trình xây dựng do còn tồn tại nhiều khiếm khuyết về hiện trạng và hồ sơ quản lý chất lượng công trình, chưa đủ điều kiện nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình, công trình xây dựng theo quy định. Công trình khối B thuộc dự án chung cư M.T chưa đủ điều kiện để đưa vào sử dụng theo quy định tại Khoản 4 Điều 31 Nghị định 46/2015/NĐ-CP, ngày 12/5/2015 của Chính phủ. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải bàn giao 02 căn hộ B-12Bis-04 và B-12Bis-07 là chưa đủ căn cứ và cho rằng nguyên đơn được quyền yêu cầu bị đơn bàn giao 02 căn hộ nêu trên khi công trình đủ điều kiện đưa vào sử dụng theo quy định của pháp luật. Nhưng cấp sơ thẩm lại tuyên ở phần Quyết định của bán án rằng : “ Không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Phi L.0 về việc buộc Công ty TNHH MNL phải bàn giao 02 căn hộ B-12Bis-04 và B-12Bis-07 thuộc khối nhà B dự án Khu chung cư cao tầng M.T tại phường T.N, Quận M.H, Thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi công trình đủ điều kiện đưa vào sử dụng theo quy định của pháp luật”.

Do cách phán quyết nói trên đã làm ảnh hưỡng đến quyền lợi của khách hàng

khi vụ án đã được giải quyết, tiền phạt chậm nghĩa vụ hợp đồng thì được nhận nhưng nhà đã mua thì lại không được nhận. Trong bản án sơ thẩm với cách tuyên như vậy, thì người mua nhà không thể yêu cầu cơ quan thi hành án giao nhà khi mà bản án không có tuyên thời gian giao nhận nhà. Một khi bản án đã có hiệu lực thì đương sự không thể đi kiện lại lần thứ hai để yêu cầu được giải quyết cùng một nội dung và cùng thành phần đương sự trong vụ án nữa, vì sự việc đã được giải quyết bằng bản án đã có hiệu lực pháp luật. ( điểm c khoản 1 Điều 192).

6

Hội đồng xét xử nhận thấy theo công văn số 953/TB-SXD-QLCLXD, ngày

21/01/2020 của Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận kết quả nghiệm

thu của Công ty MNL, công trình tòa nhà chung cư cao tầng Mooscow Tower-Khối

B để đưa vào sử dụng, vì vậy cần thiết chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, sửa bản

án sơ thẩm: Buộc Công ty TNHH MNL phải bàn giao hai căn hộ căn hộ B-12Bis-04

và B-12Bis-07 thuộc khối nhà B dự án Khu chung cư cao tầng M.T tại phường

T.N, Quận M.H, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Trần Phi L.0 ngay sau khi bản

án phát sinh hiệu lực pháp lực.

Các phần khác của bản án sơ thẩm vẫn giữ nguyên.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Công ty TNHH MNL phải chịu 20.316.799 đ (hai mươi triệu, ba trăm mười

sáu nghìn, bảy trăm chín mươi chín đồng).

Ông Trần Phi L.0 phải chịu 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng), được cấn trừ

vào số tiền 5.973.956 đ (năm triệu, chín trăm bảy mươi ba nghìn, chín trăm năm

mươi sáu đồng) ông Trần Phi L.0 đã tạm nộp. Hoàn lại số tiền 5.673.956 đ (năm

triệu, sáu trăm bảy mươi ba nghìn, chín trăm năm mươi sáu đồng) cho ông Trần Phi

L.0 theo các biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002486, ngày

10/9/2018 và biên lai số 0046887, ngày 22/01/2019 của Chi cục Thi hành án Dân

sự Quận M.H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Trần Phi L.0 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 273, Điều 296, 297 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 351, 353, 356, 357, 360, 361, 688 của Bộ luật dân sự

năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 3, 5, 10, 13, 15, 16, 17, 54, 55, 57, 58 Luật Kinh doanh

bất động sản;

Căn cứ vào Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016

của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử

dụng án phí và lệ phí Toà án;

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Sửa bản án sơ thẩm:

7

1.1 Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Phi L.0 về việc rút yêu cầu khởi

kiện yêu cầu Công ty TNHH MNL phải bồi thường tiền do vi phạm nghĩa vụ bàn giao nhà từ ngày 01/01/2018 đến ngày 31/01/2018.

1.2 Buộc Công ty TNHH MNL phải thanh toán cho ông Trần Phi L.0 số tiền

do chậm thực hiện nghĩa vụ giao nhà là 407.919.975 đ (Bốn trăm lẻ bảy triệu, chín trăm mười chín nghìn, chín trăm bảy mươi lăm đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra Công ty TNHH MNL còn phải tiếp tục thanh toán tiền cho ông L.0

do vi phạm nghĩa vụ bàn giao 02 căn hộ từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi Công ty TNHH MNL bàn giao 02 căn hộ trên cho ông L.0 theo mức lãi suất 9%/năm trên tổng số tiền ông L.0 đã thanh toán cho Công ty TNHH MNL.

1.3 Buộc Công ty TNHH MNL phải bàn giao 02 căn hộ B-12Bis-04 và B-

12Bis-07 thuộc khối nhà B dự án Khu chung cư cao tầng Moscow Tower tại phường T.N, Quận M.H, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông Trần Phi L.0 ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp

cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm:

Công ty TNHH MNL phải chịu 20.316.799 đ (Hai mươi triệu, ba trăm mười

sáu nghìn, bảy trăm chín mươi chín đồng).

Ông Trần Phi L.0 phải chịu 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) được cấn trừ

vào số tiền 5.973.956 đ (Năm triệu, chín trăm bảy mươi ba nghìn, chín trăm năm mươi đồng) ông Trần Phi L.0 đã tạm nộp. Hoàn lại số tiền 5.673.956 đ (Năm triệu, sáu trăm bảy mươi ba nghìn, chín trăm năm mươi sáu đồng) cho ông Trần Phi L.0 theo các biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002486, ngày 10/9/2018 và biên lai số 0046887, ngày 22/01/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận M.H.

Án phí dân sự phúc thẩm:

Ông Trần Phi L.0 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn lại cho

ông Trần Phi L.0 số tiền 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2019/0108582, ngày 03/3/2020 của Chi Cục Thi hành án Dân sự Quận M.H, Thành phố Hồ Chí Minh.

8

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền

thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án

theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án

được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hoàng Hoa

9

Cỡ chữ