vanban.org

Bản án 634/2020/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 31/08/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/08/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 126/2020/HSST Tuyên án 24/06/2020
Phúc thẩm — đang xem Bản án 634/2020/HS-PT Tuyên án 31/08/2020

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Linh C - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 634/2020/HS-PT
Ngày: 31-8-2020

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Cảnh

Các thẩm phán: Ông Hoàng Văn Thành

Ông Nguyễn Đăng Phong

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Tưởng Thị Huyền - Thư

ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên

tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà

Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 592/2020/TLPT-HS ngày 31 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo Lê Linh C do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 126/2020/HS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Hà Nội.

* Bị cáo có kháng cáo:

1. LÊ LINH C, sinh ngày 01/12/20XX tại H N; ĐKHKTT: Số X B T

X, phường B T X, quận H B T, TP Hà Nội; nơi cư trú: Số X L Q Đ, phường B Đ, quận H B T, TP Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Khắc D và bà Nguyễn Thị Hồng H; chồng: Không, có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/12/2019 đến ngày 27/12/2019, hiện tại ngoại có mặt.

Ngoài ra còn có bị cáo Nguyễn Quang N không có kháng cáo và

không bị kháng cáo, kháng nghị:

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 26/12/2019, tổ công tác Công an phường

Thượng Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội đang làm nhiệm vụ phát hiện Lê Linh C và Nguyễn Quang N đi xe máy Honda Vision màu đen BKS: 29D2-169.XX dừng xe tại trước số 5 Nguyễn Quý Đức, phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân, Hà Nội có biểu hiện nghi vấn về tội phạm ma túy. C xuống xe còn N đi xe máy vòng sang đường đến trước số 101 C9 Nguyễn Quý Đức dừng xe chờ. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra hành chính C và N. Qua kiểm tra N không phát hiện thu giữ gì nhưng N khai có chở C đi giao ma túy cho khách. Kiểm tra C, C khai đang cất giấu ma túy trong người để đi bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán. C tự giác lấy từ trong túi áo khoác bên phải đang mặc ra 01 túi ni lông màu trắng bên trong có 10 viên nén màu vàng nhạt, trên bề mặt mỗi viên có chữ “Coca Cola” giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã đưa C và N cùng tang vật về trụ sở Công an phường Thanh Xuân Bắc để giải quyết.

* Cơ quan Công an thu giữ của N:

- 01 (một) xe máy Honda Vision màu đen BKS: 29D2-169.XX;

- 01 (một) điện thoại di động Nokia 105 màu đen lắp sim

0981.010.XXX.

* Cơ quan Công an thu giữ của C:

- 01 (một) điện thoại Iphone 7 plus màu hồng lắp sim 0364.252.XXX;

- 01 (một) túi ni lông màu trắng kích thước 4x6cm bên trong có 10 viên

nén màu vàng nhạt, kích thước mỗi viên là 1x0,5cm trên bề mặt mỗi viên có chữ “COCACOLA”;

Kiểm tra điện thoại số thuê bao 0364.252.XXX của C thể hiện nhiều tin

nhắn về việc trao đổi mua bán ma túy.

Tại cơ quan điều tra, Lê Linh C và Nguyễn Quang N khai nhận hành vi

phạm tội của mình như sau: khoảng 21 giờ ngày 26/12/2019, N đang chở C bằng xe máy Honda Vision màu đen BKS: 29D2-169.XX thì C nhận được điện thoại từ thuê bao số 0857.908.XXX của người phụ nữ tên Nh (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) gọi vào thuê bao số 0364.525.XXX của C. Nh bảo C chuyển cho Nh ít “đồ” (C hiểu là ma túy) đến Nguyễn Quý Đức, phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân, Hà Nội cho khách. C đồng ý. Nh hẹn C đến phố Trương Định để Nh đưa ma túy. C bảo N chở đến phố Trương Định gặp Nh, Nh đưa cho C 01 túi ni lông bên trong có chứa 10 viên nén màu vàng là ma túy loại MDMA và C giao ma túy cho khách xong lấy về 13.700.000 đồng cho Nh, Nh sẽ trả công 300.000 đồng. C cất túi ma túy vào túi áo khoác bên phải đang mặc. Sau đó, N chở C đến trước cửa hàng Circle K số 5 Nguyễn Quý Đức, phường Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân, Hà Nội. C xuống xe đứng đợi và bảo N đi sang phía đối diện bên kia đường gặp khách mua ma túy lấy 13.700.000 đồng rồi nói khách sang gặp C để lấy ma túy. Khi N vừa sang đường thì cả C và N đều bị cơ quan công an kiểm tra, bắt giữ cùng tang vật.

Tại bản Kết luận giám định số 84/KLGĐ-PC09 ngày 03/01/2020

của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: 10 viên nén hình chữ nhật màu vàng nhạt lô gô “Cocacola” (thu giữ của Lê Linh C) đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 4,953 gam.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 126/2020/HS-ST ngày 24 tháng 6 năm

2020 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Lê Linh C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ

Luật Hình sự, xử phạt Lê Linh C 04 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ 26/12/2019 đến ngày 27/12/2019.

- Ngoài ra bản án còn xử phạt bị cáo Nguyễn Quang N 04 năm tù, tuyên

về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.

Ngày 03/7/2020 bị cáo Lê Linh C có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình

phạt.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Linh C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội

của mình đúng với nội dung bản cáo trạng và bản án sơ thẩm đã quy kết. Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang phải nuôi mẹ và con nhỏ; bản thân bị cáo mắc nhiều bệnh tật và có công tố giác tội phạm cho Cơ quan công an.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tại phiên tòa sau khi

tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá, phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nhân thân bị cáo, xem xét kháng cáo cùng tình tiết giảm nhẹ mới của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng Hình sự, xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Linh C và giảm cho bị cáo từ 6 đến 12 tháng tù. Cụ thể áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm n, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Linh C từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Linh C đúng về mặt chủ

thể kháng cáo và trong thời hạn của luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Linh C tại phiên tòa

phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị cáo Nguyễn Quang N, những người làm chứng, kết luận giám định, tang vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 26/12/2019, tại trước số 5 Nguyễn Quý Đức, phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân, Hà Nội, Lê Linh C và Nguyễn Quang N đã có hành vi cất giữ trái phép 4,953 gam ma túy MDMA trong người nhằm mục đích để bán kiếm lời. Chính vì vậy hành vi nêu trên của bị cáo Lê Linh C đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Lê Linh C xin giảm nhẹ hình phạt thì Hội

đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án, vai trò của bị cáo; thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội khi đang có thai 5 tuần tuổi, con còn nhỏ và áp dụng cho bị cáo Lê Linh C các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đã xử phạt 04 năm tù đối với bị cáo Lê Linh C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là phù hợp. Tuy nhiên bản thân bị cáo tuổi đời còn trẻ, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội; bị cáo hiện là lao động chính trong gia đình đang phải nuôi mẹ và một mình nuôi con còn nhỏ; hơn nữa tại cấp phúc thẩm bị cáo xuất trình tình tiết mới là đã có công phát hiện, tố giác tội phạm cho Cơ quan công an phường Bùi Thị Xuân được Cơ quan công an phường Bùi Thị Xuân xác nhận. Do vậy có căn cứ áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo sớm được trở về với xã hội mà cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

Bị cáo kháng cáo được cấp phúc thẩm chấp nhận nên không phải

chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật

tố tụng Hình sự,

1. Sửa một phần bản án sơ thẩm:

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm n, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51;

Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Linh C 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 26/12/2019 đến ngày 27/12/2019) về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về án phí: bị cáo Lê Linh C không phải nộp án phí hình sự phúc

thẩm.

3. Các quyết định khác của án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo

Nguyễn Quang N, xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ