- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ: Đỗ Thị Hiền N BĐ: Dương Văn P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Hiền N.
- Căn cứ chính? Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 634/2019/HNGĐ-ST Ngày : 18/9/2019 V/v tranh chấp : “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Đăng Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Định
2. Bà Lê Thị Thanh Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Ánh Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2019 tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 67/2019/TLST-HNGĐ ngày 25/01/2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/7/2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Hiền N, sinh năm 1974
Thường trú: Đường N, Phường M, Quận P, Thành phố H
(có mặt)
2. Bị đơn: Ông Dương Văn P, sinh năm 1973
Thường trú: Đường N, Phường M, Quận P, Thành phố H
(vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn nộp ngày 10/01/2019 và các lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn bà Đỗ Thị Hiền N trình bày:
Bà Đỗ Thị Hiền N và ông Dương Văn P tự nguyện kết hôn năm 2004, đăng ký kết hôn theo Giấy Chứng nhận kết hôn do UBND Phường B, thị xã T, tỉnh P cấp số 123, quyển số 01/2004 ngày 27/12/2004. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, bà N là lao động chính trong gia đình. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ khi ông P đi làm trở lại. Ông P có nhiều mối quan hệ, giao tiếp nhiều người và có thái độ không tôn trọng vợ. Ông P không chia sẻ, giúp đỡ vợ các công việc trong gia đình cho đến việc nuôi dạy con cái. Thời gian này bà N là người chủ yếu chịu các khoản chi tiêu sinh hoạt trong gia đình.
Bà N đã nhiều lần khuyên nhủ ông P và bản thân bà cũng cố gắng thay đổi để vợ chồng hàn gắn tình cảm, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh P. Tuy nhiên, kể từ năm 2015 cho đến nay mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm nhạt dần. Nay nhận thấy cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông P.
Về con chung: Bà N và ông P có 01 con chung tên Dương Đỗ Nguyên K, sinh ngày 27/10/2005. Hàng ngày, bà N đưa đón trẻ K đi học, dạy dỗ và chơi đùa với con. Ông P ít khi dành thời gian chăm sóc con.
Sau khi ly hôn bà N yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Khoa cho đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà N tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Dương Văn P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ triệu tập để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng ông P vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, bà N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không bổ sung chứng cứ nào khác.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như Hội đồng xét xử sơ thẩm đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Nguyên đơn bà Đỗ Thị Hiền N yêu cầu ly hôn với ông Dương Văn P là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án, xét xử trong trường hợp bị đơn vắng mặt tại phiên tòa:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận P.
Theo kết quả xác minh của Công an Phường M, quận P, ông Dương Văn P có hộ khẩu thường trú và hiện đang cư trú tại số Đường N, Phường M, Quận P, Thành phố H. Ông P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất ngày 01/8/2019, lần thứ hai ngày 26/8/2019 và phiên tòa sơ thẩm hôm nay nhưng ông P vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng quyết định xét xử vắng mặt ông P.
Về quan hệ hôn nhân:
Bà N và ông P tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo Giấy Chứng nhận kết hôn do UBND Phường B, thị xã T, tỉnh P cấp số 123, quyển số 01/2004 ngày 27/12/2004 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn, không cùng quan điểm sống, không hạnh P. Ông P không chăm lo cho gia đình, không quan tâm vợ con. Tại phiên tòa bà N xác nhận không còn tình cảm với ông P, đời sống chung không thể kéo dài và có nguyện vọng ly hôn.
Ông P lại vắng mặt không có lý do tại các buổi làm việc lấy lời khai, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa sơ thẩm. Ông P cũng không có ý kiến gì về yêu cầu ly hôn của bà N và cũng không cung cấp bất kỳ chứng cứ nào. Điều này cho thấy ông P thờ ơ, không quan tâm việc duy trì quan hệ hôn nhân với bà N. Nếu tiếp tục cuộc sống chung thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được.
Căn cứ vào các Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét thấy yêu cầu ly hôn của bà N cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung:
Bà N và ông P có 01 con chung tên Dương Đỗ Nguyên K, sinh ngày 27/10/2005. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ K cho đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy bà N có công việc ổn định, có thu nhập để chăm lo cho trẻ K. Mặt khác, hàng ngày bà N luôn là người đưa đón trẻ K đi học, dành thời gian tự mình chăm sóc, dạy dỗ trẻ K. Đồng thời nguyện vọng của trẻ K cũng muốn sống chung với bà N.
Để đảm bảo cuộc sống ổn định cũng như điều kiện học tập, sinh hoạt phù hợp với lợi ích của trẻ K, căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu này của bà N.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền được thăm nom con chung, không ai được cản trở. Con chưa thành niên cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức đóng góp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà N tự khai không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình: Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà N chịu 300.000 đồng, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0041541 ngày 23/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận P. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014),
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Hiền N.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Hiền N ly hôn với ông Dương Văn P.
- Về con chung: Bà N là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là trẻ Dương Đỗ Nguyên K, sinh ngày 27/10/2005 cho đến khi đủ 18 tuổi và ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền được thăm nom con chung, không ai được cản trở. Con chưa thành niên cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức đóng góp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà N chịu 300.000 đồng, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0041541 ngày 23/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận P.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bà Đỗ Thị Hiền N được quyền kháng cáo. Ông Dương Văn P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TP HCM; - VKSND TP HCM; - VKSND Q.PN; - Chi cục THA DS Q.PN; - UBND P.B,TX T,T.P; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Võ Thị Đăng Hà |