- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Lê Thị P:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 633/2023/ HNGĐ-ST Ngày: 20-4-2023 V/v: “ Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Nhơn
2. Bà Nguyễn Thị Bính Thân
Thư ký phiên toà:
Bà Phạm Thị Mỹ Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B tham gia phiên toà:
Bà Hồ Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 530/2022/TLST-HNGĐ ngày 28/3/2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/3/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2023/QĐST-HNGĐ ngày 30/3/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
Bà Lê Thị P, sinh năm 1986 (có mặt)
Bị đơn:
Ông Phạm C, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Phường 5, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn kiện cùng các lời khai của bà Lê Thị P trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa thể hiện như sau:
Bà và ông Phạm C tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 2014, được UBND Phường 5, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 76/2014, quyển 01/2014, ngày 19/9/2014.
Thời gian đầu chung sống bình thường, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống gia đình, ông C không lo làm ăn mà còn ham mê cơ bạc gây nợ nần, bà đã nhiều lần góp ý nhưng ông C vẫn không thay đổi, cuộc sống vợ chồng thường xảy ra tranh cãi. Ngoài ra ông C còn sống không chung thủy với bà, khi bị bà bắt gặp ông C xin lỗi và hứa sẽ thay đổi nhưng sau đó thì ông vẫn tiếp tục có những mối quan hệ tình cảm nam nữ khác. Do không giải quyết được mâu thuẫn nên ông bà đã sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay. Trong suốt thời gian sống ly thân bà và ông C không ai quan tâm đến ai, mạnh ai lo cuộc sống của người đó.
Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng vợ chồng quay về đoàn tụ là không thể nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông C để sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà P khai bà và ông C có 01 người con chung tên Phạm T, sinh ngày 22/10/2014. Từ khi sống ly thân đến nay con do bà trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, nên bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng trẻ T.
Về vấn đề cấp dưỡng việc nuôi con: Bà P không yêu cầu ông C cấp dưỡng việc nuôi con chung cho bà.
Về tài sản chung: Bà P khai bà và ông C không có tài sản chung.
Về nợ chung: Bà P khai bà và ông C không có nợ chung.
Phía bị đơn – ông Phạm C vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập lên tòa án làm bản tự khai, Thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa. Nhưng ông C vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có bất kỳ ý kiến gì trình bày bằng văn bản gửi cho Tòa án.
Tại phần tranh luận:
Nguyên đơn không phát biểu ý kiến tranh luận.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:
Thẩm phán xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Thẩm phán đã xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát thực hiện theo đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Tòa án tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, Thẩm phán còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Thư ký đã tuân thủ đúng quy định Điều 51 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng :
Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn: Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay bị đơn không thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 76/2014, quyển số 01/2014, ngày 19/9/2014 của Ủy Ban Nhân Dân Phường 5, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà P và ông C, được xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy: Trong quá trình sống chung bà Lê Thị P và ông Phạm C có nhiều bất đồng về quan điểm sống, các bên không còn hòa hợp với nhau, cuộc sống chung gặp nhiều khó khăn, mâu thuẫn, vợ chồng cảm thông cho nhau dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm không còn khả năng hàn gắn.
Bị đơn ông Phạm C trong suốt quá trình giải quyết vụ án đều không đến Tòa án làm việc, cũng không có ý kiến gì bằng văn bản đối với yêu cầu của bà P. Qua đó nhận thấy ông C không còn quan tâm đến tình trạng hôn nhân giữa bà P và ông.
Xét thấy yêu cầu xin ly hôn của bà P là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà P và ông C có 01 con chung là Phạm T sinh ngày 22/10/2014. Bà P yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Phạm T và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con từ ông C. Xét bản tự khai ngày 6/3/2023, cháu Phạm T có nguyện vọng được sống cùng với mẹ, phù hợp với yêu cầu được nuôi dưỡng con chung của bà P. Phía bị đơn ông Phạm C không đến Tòa án làm việc và cũng không có bất kỳ văn bản nêu ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung. Để đảm bảo sự phát triển toàn diện của cháu T thì cần thiết giao cháu cho bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của bà P theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Về trợ cấp nuôi con, ghi nhận việc bà P không yêu cầu trợ cấp nuôi con từ ông C.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Từ những nhận định trên, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Lê Thị P và giao trẻ Phạm Tuấn Kiết cho bà P là người trực tiếp nuôi dưỡng.
Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị P chịu án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; nghe ý kiến của đương sự; nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Quan hệ tranh chấp giữa bà Lê Thị P và ông Phạm C là tranh chấp về Ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bị đơn – ông Phạm C có địa chỉ cư trú tại số 449/6/5C Lê Quang Định, Phường 5, quận B. Theo kết quả cung cấp chứng cứ ngày 25/4/2022 của Công an Phường 5, quận B, có cơ sở xác định ông Phạm C có hộ khẩu trường trú và thực tế cư ngụ sinh sống tại địa chỉ trên. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận B.
. Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử lần 1 vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 30/3/2023 và lần 2 lúc 08 giờ 00 phút ngày 20/4/2023 nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên tòa theo quy định.
. Về yêu cầu của nguyên đơn :
Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị P và ông Phạm C được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND Phường 5, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 76/2014, quyển 01/2014, ngày 19/9/2014, nên xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Qua các lời khai của bà P có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa hôm nay, đều khẳng định tình trạng hôn nhân giữa bà và ông C đã đến mức trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn. Nguyên nhân chính do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thiếu sự quan tâm chia sẻ, không tìm được tiếng nói chung và thường xảy ra tranh cãi. Do không giải quyết được mâu thuẫn nên ông bà đã sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay, trong suốt thời gian sống ly thân đôi bên không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai lo cuộc sống của người đó.
Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ lúc thụ lý vụ án cho đến thời điểm xét xử, Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông Phạm C đến Toà án để giải quyết vụ án theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng ông C đều vắng mặt không có lý do. Trong đó có hai lần triệu tập hợp lệ ông C đến Tòa để Tòa án tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đoàn tụ, ông C đã nhận văn bản của Tòa án nhưng cũng không có bất cứ ý kiến phản hồi gì bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của bà P. Điều này thể hiện, ông C thực sự không còn quan tâm đến tình trạng hôn nhân giữa ông và bà P, đồng thời cũng không có thiện chí giải quyết mâu thuẫn vợ chồng để cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, chung tay nuôi dạy con cái.
Toà án cũng đã nhiều lần phân tích, động viên bà P quay về đoàn tụ với ông C nhưng bà P khẳng định bà không còn tình cảm gì với ông C, khả năng vợ chồng quay về đoàn tụ là không thể. Vì vậy, bà cương quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông C để sớm ổn định cuộc sống.
Từ các cơ sở trên, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà P và ông C đã đến mức trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà P như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B.
Về con chung: Bà P khai bà và ông C có 01 người con chung tên Phạm T sinh ngày 22/10/2014. Từ khi ông bà sống ly thân đến nay, con do bà trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc nên bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng trẻ T, còn ông C không có bất kỳ ý kiến gì về yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của bà P. Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu này của bà P là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo sự phát triển toàn diện của trẻ và tránh được sự xáo trộn về mặt tâm lý, do đó cần phải tiếp tục giao trẻ T cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và cũng phù hợp với nguyện vọng của trẻ T là mong muốn được sống với mẹ.
Nghĩa vụ cấp dưỡng việc nuôi con: Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà P, về việc không yêu cầu ông C cấp dưỡng việc nuôi con chung cho bà.
Về tài sản chung: Bà P khai bà và ông C không có tài sản chung.
Về nợ chung: Bà P khai bà và ông C không có nợ chung.
3.Về án phí : Bà P phải nộp án phí DSST không có giá ngạch là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227 ; Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Áp dụng Luật thi hành án dân sự;
- Áp dụng Luật án phí, lệ phí Tòa án;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Lê Thị P:
Về quan hệ vợ chồng: Bà Lê Thị P, sinh năm 1986 và ông Phạm C, sinh năm 1985 được ly hôn.
Giấy chứng nhận kết hôn số 76/2014, quyển 01/2014, ngày 19/9/2014 được UBND Phường 5, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Phạm C và bà Lê Thị P hết hiệu lực ngay sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật.
Về con chung: Giao trẻ Phạm T, sinh ngày 22/10/2014 cho bà Lê Thị P trực tiếp nuôi dưỡng.
Nghĩa vụ cấp dưỡng việc nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị P, về việc không yêu cầu ông Phạm C cấp dưỡng việc nuôi trẻ T cho bà P.
Ông Phạm C được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà P khai bà và ông C không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà P khai bà và ông C không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Các bên thi hành án tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
2. Án phí DSST : 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà Lê Thị P nộp toàn bộ, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà P đã nộp theo biên lai thu số 0000879 ngày 18/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận B. Sau khi cấn trừ P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bà Lê Thị P được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Phạm C được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -TAND Tp.HCM; -VKSND Q.B; -THA DS Q.B; - UBND P.5, Q. B; - Đương sự; - Lưu HS, VP. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Nguyệt HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Nguyệt HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Thanh Mƣời |