vanban.org

Bản án 63/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 30/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo K phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma tuý" .

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo K 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 21/10/2025. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn Khín - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo K phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma tuý" .
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2026/HS-ST
Ngày 30-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương

Các hội thẩm nhân dân: Ông Vàng A Kỷ; Ông Đỗ Đình Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Kiến Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2026/TLST - HS ngày 07 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2026/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: K, sinh ngày 07/8/1990, tại xã Mường Than, tỉnh Lai Châu. Nơi cư trú: bản Đội 9, xã Mường Than, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn Ộ, sinh năm: 1964 và bà Tòng Thị Xam, sinh năm: 1964. Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/10/2025, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam Tân Uyên thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Lai Châu cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 07 giờ 00 phút ngày 13/10/2025, tại Trung tâm y tế Than Uyên, tỉnh Lai Châu, Công an xã Than Uyên, tỉnh Lai Châu tiến hành xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể K, kết quả K “Dương tính” với chất ma tuý loại MOP (Heroine) và MET (Methamphetamine).

Tại cơ quan điều tra K khai nhận bản thân đang điều trị cai nghiện ma túy bằng thuốc thay thế Methadone, bắt đầu điều trị bằng thuốc Methadone từ ngày 16/01/2025 tại Trung tâm y tế Than Uyên. Tuy nhiên không tuân thủ điều trị theo phác đồ của Trung tâm y tế Than Uyên, nên vào khoảng 07 giờ ngày 06/10/2025 K đến Trung tâm y tế Than Uyên để uống thuốc Methadone, sau khi uống thuốc xong thì khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày Khín xin đi nhờ xe mô tô của một người lạ mặt để lên bản Noong Thăng, xã Mường Than, tỉnh Lai Châu tìm mua Heroine sử dụng. Đến bản Noong Thăng, Khín gặp người đàn ông dân tộc Mông không rõ nhân thân lai lịch nhờ người đàn ông này mua hộ cho 01 gói heroine với giá 100.000 đồng. Sau khi nhận được gói Heroine, Khín đi đến bãi đất trống gần bụi tre trong bản Noong Thăng, xã Mường Than sử dụng hết bằng hình thức chích.

Tại bản Kết luận giám định tư pháp số: 2686/KL-KTHS ngày 17/10/2025, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: “Trong mẫu nước tiểu thu giữ của K gửi đến giám định có chất ma tuý, loại Morphine và Methamphetamine”.

+ Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong danh mục IIC, số thứ tự

247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

+ Morphine là chất ma tuý nằm trong danh mục IIA, số thứ tự 55, Nghị

định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

+ Morphine là sản phẩm chuyển hoá của Heroine trong cơ thể người”.

Bản Cáo trạng số: 68/CT-VKSKV2 ngày 07/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu đã truy tố bị cáo K về tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đề nghị xử phạt bị cáo K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có tranh luận gì.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

K là người đang điều trị cai nghiện ma túy bằng thuốc thay thế Methadone, thời gian điều trị bằng thuốc Methadone từ ngày 16/01/2025 tại Trung tâm y tế Than Uyên. Tuy nhiên ngày 06/10/2025, tại bản Noong Thăng, xã Mường Than, tỉnh Lai Châu, K đã mua trái phép 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch. Sau khi mua được Heroine, K đã sử dụng hết bằng hình thức chích tại bãi đất trống gần bụi tre trong bản Noong Thăng, xã Mường Than, tỉnh Lai Châu. Kết quả giám định tư pháp số: 2686/KL-KTHS ngày 17/10/2025, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: “Trong mẫu nước tiểu thu giữ của K gửi đến giám định có chất ma tuý, loại Morphine và Methamphetamine”, (Morphine là sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể người).

Do bị cáo K là đối tượng đang điều trị cai nghiện ma túy bằng thuốc thay thế Methadone theo hồ sơ bệnh án có mã số bệnh nhân là 567 tại Trung tâm y tế Than Uyên. Thời gian điều trị từ ngày 16/01/2025, tuy nhiên đang trong thời gian điều trị thì đến ngày 06/10/2025 K có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu truy tố bị cáo về tội: "Sử dụng trái phép chất ma túy" theo điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) là có căn cứ đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, quan điểm về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quy định quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và gây mất an ninh trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân cố tình phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Vì vậy Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các vấn đề khác: Về nguồn gốc Heroine, bị cáo K khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điều 21; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo K phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma tuý" .

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo K 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 21/10/2025.

3. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu./.

THÀNH VIÊN

THẨM PHÁN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phương

Cỡ chữ