- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Minh L - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHUVỰC19-THÀNHPHỐHỒCHÍMINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2026/HS-ST Ngày 28/5/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 19 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Thanh Ân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đình Quân;
Bà Võ Thị Thu Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Hoàng Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2026/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2026/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Minh L, sinh năm 1998 tại B (nay là Thành phố H). CCCD số 074098006101. Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã P, Thành phố H; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn T2 (chết) và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1967; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Nhân thân:
Quyết định số 182/QĐ-UBND ngày 30/7/2012 của Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh B về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường Giáo dưỡng thời hạn 24 tháng đối với Võ Minh L. Ngày 15/07/2014, Võ Minh L đã chấp hành xong theo Văn bản số 26/TGD4-GVHS ngày 30/01/2026 của Trường Giáo dưỡng số 4, Cục C10.
Quyết định số 13/QĐ-UBND ngày 03/02/2020 của UBND xã V, huyện P, tỉnh B áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 06 tháng đối với Võ Minh L. Ngày 04/8/2020, Võ Minh L đã chấp hành xong theo văn bản số 10/GCN-UBND của UBND xã V, huyện P, tỉnh B.
Bản án số 75/2015/HSST ngày 23/12/2015 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh B xử phạt Võ Minh L 04 tháng 15 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong ngày 02/07/2016 theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 308/GCN ngày 02/07/2016 của Cơ quan thi hành án hình sự, Công an tỉnh B.
Bản án số 95/2022/HSST ngày 15/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh B xử phạt Võ Minh L 01 năm 04 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong ngày 09/9/2023 theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 589/GCN ngày 09/9/2023 của Trại giam Cây Cầy, Cục C10.
Quyết định số 73/QĐ-UBND ngày 20/01/2025 của UBND xã V, huyện P, tỉnh B về “Cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng” thời gian cai nghiện từ ngày 20/01/2025 đến ngày 20/01/2026 đối với Võ Minh L.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2025 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ sáng ngày 26/12/2025, bị cáo Võ Minh L đi bộ trên đường ĐH 502 thì gặp T4 (không rõ họ tên đầy đủ, địa chỉ), là tài xế lái xe tải quen biết L, đang điều khiển xe dừng đèn tín hiệu giao thông (không rõ biển số xe). T4 rủ L uống bia, rượu và chỉ địa điểm là lô cao su gần đường tạo lực thuộc xã B thì L đồng ý. Đến khoảng 09 giờ 40 phút ngày 26/12/2025, L đi ra đường ĐH 502 xin quá giang một tài xế xe đầu kéo đang lưu thông để đi đến điểm hẹn với T4 thì tài xế này đồng ý cho L đi nhờ. Khi đến khu vực xã Bắc Tân Uyên thì L xin xuống xe. L đi bộ đến gặp T4. Khi gặp T4 thì có một người bạn của T4 đã có mặt và chuẩn bị sẵn thức ăn cùng rượu. L cùng ngồi uống rượu, bia với T4 và bạn T4. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, thì L say xỉn nên xin đi về trước. Trước khi về thì L hỏi T4 có ma túy không cho chơi ké một vài hơi. Lúc này, T4 đưa cho L 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 vỏ chai nước ngọt và 01 đoạn ống thủy tinh) rồi nói ở trong bộ dụng cụ còn một ít ma túy, kêu L cầm về sử dụng. L nhận bộ dụng cụ rồi đi ra đường tạo lực tiếp tục vẫy 01 xe ô tô tải xin đi nhờ. Khi đến gần nhà máy nước Tam Lập thì L xin xuống xe rồi đi bộ vào lô cao su ở đường Chàng Ràng thuộc ấp C, xã P, Thành phố H. Tại đây, L quan sát xung quanh không có người nên đã lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy mà T4 đưa trước đó ra để sử dụng. L sử dụng bật lửa có sẵn trong người đốt ma túy để hút, được khoảng 10 phút thì L sử dụng hết ma túy trong bộ dụng cụ nên L đi bộ ra ngã tư giao nhau giữa đường ĐH 502 với đường tạo lực để xin quá giang xe đi về. Trên đường đi bộ ra xin nhờ xe thì L ném bộ dụng cụ sử dụng ma túy vào bụi cỏ bên đường. Tuy nhiên, do đã say rượu nên L không nhớ mình ném bộ dụng cụ ở vị trí nào. L đi nhờ xe ô tô tải về đến ngã ba Cây Khô thì xuống xe và đi bộ về nhà tại ấp T, xã P, Thành phố H nghỉ ngơi.
Đến tối ngày 27/12/2025, L đi chơi về và thuê phòng số 5, nhà nghỉ Duy Anh tại ấp V, xã P, Thành phố H để ngủ thì bị Công an xã P kiểm tra hành chính mời về trụ sở làm việc và xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể. Kết quả L dương tính với ma túy đá (MET).
Tại bản Cáo trạng số 128/CT-VKSKV19 ngày 08/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Võ Minh L về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025 (Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Võ Minh L, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Minh L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Võ Minh L từ 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù;
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Không.
Tại phiên tòa, bị cáo trình bày thống nhất với nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn, hối hận và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: Bị cáoVõ Minh L đang thuộc diện quản lý cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng theo Quyết định số: 73/QĐ-UBND ngày 20/01/2025 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh B (nay là xã P, Thành phố H) thời gian cai nghiện từ ngày 20/01/2025 đến ngày 20/01/2026. Ngày 26/12/2025, L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Theo Kết luận giám định số 1325/KL-KTHS ngày 06/01/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Trong mẫu nước tiểu của Võ Minh L gửi giám định tìm thấy chất ma túy Methamphetamine.
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Về nhận thức, bị cáo Võ Minh L biết hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật; nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy.
Hành vi của bị cáo Võ Minh L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Cáo trạng số 128/CT-VKSKV19 ngày 08/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Võ Minh L về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tội phạm do bị cáo thực hiện không những xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, ảnh hưởng đến trật tự trị an trong khu vực, ảnh hưởng tiêu cực đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy mà Nhà nước ta đang tiến hành mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định một hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, như vậy mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo, đồng thời nêu gương phòng ngừa chung cho xã hội.
Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Võ Minh L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Võ Minh L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đối với đối tượng tên T4 đưa ma túy cho L sử dụng, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng T4, Cơ quan điều tra Công an Thành phố H sẽ tiếp tục điều tra xử lý sau.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Võ Minh L là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51, các Điều 38, 46, 47, và Điều 50 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Võ Minh L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”;
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Võ Minh L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/12/2025.
3. Về án phí:
Buộc bị cáo Võ Minh L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh; - PV06 Công an Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND khu vực 19 - Thành phố Hồ Chí Minh; - THADS Thành phố Hồ Chí Minh; - UBND cấp xã nơi cư trú của bị cáo (để thay thông báo); - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Ân |