- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Phương M được ly hôn với anh Trịnh Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2026/HNGĐ-ST Ngày: 09-6-2026 “V/v ly hôn, nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Diên.
Các Hội thẩm nhân dân :
1. Ông Trương Văn Dương.
2. Bà Cao Thị Hằng.
- Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 65/2026/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 3 năm 2026 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2026/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Phương M, sinh năm 1999.
Trú tại: Khối H, phường T, tỉnh Nghệ An (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Trịnh Văn C, sinh năm 1997.
Trú tại: Xóm H, xã N, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 14/01/2026 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Phương M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phương M và anh Trịnh Văn C có đăng ký kết hôn vào ngày 20 tháng 6 năm 2018 tại UNND xã N, tỉnh Nghệ An, hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu. Sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, không có tiếng nói chung. Đến nay mâu thuẫn ngày càng thường xuyên và trầm trọng hơn. Mặc dù mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình nội, ngoại hòa giải nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng cũng không hàn gắn được. Do đó vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2025 cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.
Về con chung: Chị M và anh C có 02 con chung là Trịnh Công N, sinh ngày 18/4/2016 và Trịnh Ngọc H, sinh ngày 21/6/2017. Hiện các con chung đang sinh sống với chị. Nếu ly hôn thì chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung. Hiện tại chị đang làm nghề lao động tự do, thu nhập đảm bảo đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị M không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.
Về chia tài sản chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung, không có tài sản cho ai vay, không vay của ai tài sản gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn anh Trịnh Văn C thường xuyên vắng mặt tại địa phương, thỉnh thoảng anh C có về. Do đó Tòa án đã niêm yết các văn văn tố tụng cho anh C theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Đúng thành phần, đúng quy định từ khi mở phiên toà cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Về việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, không có mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị Phương M được ly hôn với anh Trịnh Văn C.
Về nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao 02 con chung là Trịnh Công N, sinh ngày 18/4/2016 và Trịnh Ngọc H, sinh ngày 21/6/2017 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị M không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về chia tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Phương M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Nguyễn Thị Phương M phải chịu toàn bộ án phí LHST.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Phương M yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An giải quyết ly hôn với anh Trịnh Văn C có hộ khẩu thường trú tại xóm H, xã N, tỉnh Nghệ An. Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Nghệ An.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Phương M có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trịnh Văn C đã được Toà án triệu phiên toà hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về nội dung:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phương M và anh Trịnh Văn C có đăng ký kết hôn vào ngày 20 tháng 6 năm 2018 tại UBND xã N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện kết hôn. Do đó hôn nhân giữa chị M và anh C là hợp pháp.
Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo chị M nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, không có tiếng nói chung. Mặc dù mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình nội, ngoại hòa giải nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng cũng không hàn gắn được. Do đó vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2025 cho đến nay. Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay không còn ai quan tâm chăm sóc nhau nữa. Qua xác minh tại địa phương xác định anh C đi làm ăn, có đi về địa phương và trong quá trình chung sống thì chị M, anh C có xảy ra mâu thuẫn. Tuy nhiên nguyên nhân mâu thuẫn thế nào thì Ban cán sự xóm không nắm được. Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã thông báo, triệu tập, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ cho anh C nhưng anh C đều vắng mặt không có lý do. Điều đó chứng tỏ anh C không mong muốn tìm giải pháp để hàn gắn tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng.
Xét mâu thuẫn giữa chị M, anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị M được ly hôn với anh C như lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An là có căn cứ.
2.2. Về nuôi con chung: Chị M và anh C có 02 con chung là Trịnh Công N, sinh ngày 18/4/2016 và Trịnh Ngọc H, sinh ngày 21/6/2017, không ai có con riêng, không nuôi con nuôi. Nay ly hôn chị M có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Chị M làm lao động tự do, đảm bảo thu nhập, điều kiện ăn ở, sinh hoạt để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Hiện tại hai con chung của chị M, anh C đang được chị M trực tiếp nuôi dưỡng và hai con chung cũng có nguyện vọng được ở với chị M. Qua xác minh tại địa phương xác định chị M, anh C không ai có hành vi đánh đập, ngược đãi các con chung và các con chung đang được chị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc tốt. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, anh C đều vắng mặt không có lý do. Do đó để tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con chung của chị M, anh C được phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần, đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên khi chị M, anh C ly hôn, cần giao hai con chung của chị M, anh C cho chị M được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục theo quy định tại các Điều 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Nghệ An là phù hợp.
Chị M không yêu cầu anh C thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
2.3. Về chia tài sản: Chị Nguyễn Thị Phương M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Phương M phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 238 và các Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Phương M được ly hôn với anh Trịnh Văn C.
2. Về nuôi con chung:
2.1. Giao cho chị Nguyễn Thị Phương M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung của chị M và anh C là Trịnh Công N, sinh ngày 18/4/2016 và Trịnh Ngọc H, sinh ngày 21/6/2017 đến lúc con chung đủ 18 tuổi trưởng thành.
2.2. Chị M không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
3. Về chia tài sản: Chị Nguyễn Thị Phương M không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Phương M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà chị M đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0001464 ngày 05/3/2026, tại Thi hành án dân sự tỉnh N (chị M đã nộp đủ tiền án phí).
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận - Các đương sự; - VKSND khu vực 8 - Nghệ An; - TAND tỉnh Nghệ An; - Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An; - UBND xã Nghĩa Khánh (ghi vào sổ hộ tịch); - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Văn Diên |