vanban.org

Bản án 63/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thanh H được ly hôn với ông Trương Danh H.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Trương Yến V, sinh ngày 16/9/2014 cho bà Nguyễn Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thanh H - Trương Danh H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thanh H được ly hôn với ông Trương Danh H.
  • Căn cứ chính? Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật Tố tụng hành chính; Luật Tư pháp người
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2026/HNGĐ-ST
Ngày 23 - 4 - 2026
V/v “Tranh chấp về hôn nhân
và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Quang Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Duy Phương

Ông Lưu Huy Hà

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 122/2026/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2026 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2026/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thanh H, sinh năm 1989

Địa chỉ: Tổ 1, khu phố P, phường A, tỉnh Đồng Nai.

CCCD số xxxxxxxxxx45, cấp ngày xx/xx/2021

Có đơn xin vắng mặt

- Bị đơn: Ông Trương Thanh H, sinh năm 1981

Địa chỉ: Tổ 1, khu phố P, phường A, tỉnh Đồng Nai.

CCCD số xxxxxxxxxx86, cấp ngày xx/xx/2021

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/12/2025 và các văn bản có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thanh H trình bày:

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thanh H và ông Trương Thanh H kết hôn với nhau một cách tự nguyện vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại phường P, thị xã B, tỉnh Bình Phước (nay là phường A, tỉnh Đồng Nai). Quá trình chung sống, bà Nguyễn Thanh H và ông Trương Thanh H sống hạnh phúc được thời gian đầu, những năm gần đây thì vợ chồng sống không có hạnh phúc mà mâu thuẫn thường xuyên xảy ra. Nguyên nhân của việc phát sinh mâu thuẫn là do thời gian gần đây vợ chồng không thống nhất với nhau trong quan điểm sống, ông H không tôn trọng bà H, có hành vi bạo lực với bà H. Bà Nguyễn Thanh H cảm thấy cuộc sống chung giữa vợ chồng luôn căng thẳng, tình cảm bà Nguyễn Thanh H dành cho ông Trương Danh không còn và không muốn tiếp tục sống chung. Bà H yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết cho bà H được ly hôn với ông Trương Danh H.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thanh H và ông Trương Thanh H có 01 con chung tên là Trương Yến V, sinh ngày 16/9/2014. Bà Nguyễn Thanh H có yêu cầu được nuôi dưỡng con chung. Không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và các vấn đề khác có liên quan: Bà Nguyễn Thanh H không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, không còn có yêu cầu nào khác.

- Tại bản tự khai đề ngày 05/02/2026, bị đơn ông Trương Danh H trình bày.

Về hôn nhân: Ông Trương Danh H và bà Nguyễn Thanh H tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại phường P, thị xã B, tỉnh Bình Phước (nay là phường A, tỉnh Đồng Nai). Quá trình chung sống, vợ chồng vẫn sống hạnh phúc, đôi khi có xảy ra mâu thuẫn nhưng cũng chưa đến mức trầm trọng. Ông H vẫn còn yêu thương vợ, vẫn muốn vợ chồng đoàn tụ, chung sống hạnh phúc để chăm lo cho con chung, cũng đã nhận ra sai lầm và cũng đang sửa chữa, cố gắng cùng vợ chăm sóc con và chăm lo gia đình. Ông H xác định tình cảm mà ông H dành cho vợ vẫn còn và không ly hôn mà có nhu cầu được đoàn tụ gia đình.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Ông Trương Danh H và bà Nguyễn Thanh H có 01 con chung tên là Trương Yến V, sinh ngày 16/9/2014. Ông Trương Danh H có yêu cầu được đoàn tụ gia đình nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và các vấn đề khác có liên quan: Ông Trương Danh H không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn. Phân tích các tình tiết của vụ án, tài liệu, chứng cứ được kiểm tra tại phiên tòa, đối chiếu với quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Áp dụng Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…năm 2025; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về hôn nhân: Đề nghị tuyên xử cho bà Nguyễn Thanh H được ly hôn với ông Trương Danh H.

- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Đề nghị giao cháu Trương Yến V, sinh ngày 16/9/2014 cho bà Nguyễn Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng. Không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên và đương sự;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về quan hệ pháp luật: Bà Nguyễn Thanh H yêu cầu được ly hôn ông Trương Danh H, yêu cầu giải quyết về con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và giải quyết tài sản chung. Vì vậy, đây là vụ án “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Trương Danh H cư trú tại phường A, tỉnh Đồng Nai. Theo quy định tại Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đồng Nai.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thanh H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Trương Danh H vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 328 Bộ luật Tố tụng dân sự để đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Yêu cầu của đương sự:

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thanh H và ông Trương Danh H kết hôn với nhau một cách tự nguyện vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại phường P, thị xã B, tỉnh Bình Phước nay là phường A, tỉnh Đồng Nai (Giấy chứng nhận kết hôn số 44, quyển số 01/2013 do Chủ tịch UBND phường P ký cấp ngày 19/12/2013 - BL số 03). Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, tuân thủ đầy đủ về điều kiện và thủ tục kết hôn được quy định tại các Điều 8 và 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Quá trình chung sống, bà Nguyễn Thanh H và ông Trương Danh H sống với hạnh phúc được thời gian ngắn, những năm gần đây thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân của việc phát sinh mâu thuẫn là do giữa hai người có tính tình không hợp nhau, trong cuộc sống vợ chồng không còn sự chia sẻ, thông cảm, bỏ qua cho nhau những bất đồng làm cho tình cảm vợ chồng không còn. Xét thấy, cuộc hôn nhân giữa bà Nguyễn Thanh H và ông Trương Danh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu cứ duy trì cuộc hôn nhân giữa hai người thì cũng không có ý nghĩa gì mà chỉ làm khổ cho nhau. Vì vậy, bà Nguyễn Thanh H yêu cầu ly hôn với ông Trương Danh H là có căn cứ và được chấp nhận.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:

Bà Nguyễn Thanh H và ông Trương Danh H có 01 con chung tên là Trương Yến V, sinh ngày 16/9/2014 (Bản sao Giấy khai sinh số 90, quyển số 01/2014 do UBND P, thị xã B, tỉnh Bình Phước ký ngày 26/5/2015 - BL số 04). Bà Nguyễn Thanh H có yêu cầu được nuôi con chung, ông Trương Danh H không yêu cầu xem xét, giải quyết. Bà Nguyễn Thanh H và ông Trương Danh H đều có đủ điều kiện để nuôi con chung, cháu Trương Yến V có nguyện vọng được chung sống với bà Nguyễn Thanh H, yêu cầu này của bà H phù hợp với nguyện vọng của con trẻ, không trái đạo đức xã hội nên được chấp nhận. Xét thấy, giao cháu Trương Yến V cho bà Nguyễn Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Các bên không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Tuy nhiên, nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom con chung gây cản trở đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung của người trực tiếp nuôi con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét hạn chế quyền thăm nom con chung của người không trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích tốt nhất về mọi mặt con trẻ, bà H và ông H có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét giải quyết việc cấp dưỡng hoặc việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 8, 9, 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thanh H được ly hôn với ông Trương Danh H.

2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:

Giao cháu Trương Yến V, sinh ngày 16/9/2014 cho bà Nguyễn Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Tuy nhiên, nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom con chung gây cản trở đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung của người trực tiếp nuôi con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét hạn chế quyền thăm nom con chung của người không trực tiếp nuôi con.

Vì lợi ích tốt nhất về mọi mặt con trẻ, bà Hải và ông Hải có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xem xét giải quyết việc cấp dưỡng hoặc việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật.

3. Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Nguyễn Thanh H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Nguyễn Thanh H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002008 ngày 21/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.

5. Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ