- Tranh chấp gì? án hình sự — "BẢN ÁN HÌNH SỰ SƠ THẨM - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Vũ Việt A 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - H ----------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2025/HSST Ngày: 19 tháng 09 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - H
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thuý Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Anh Thư
2. Ông Nguyễn Việt Anh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Ngọc - Thư ký Toà án
nhân dân Khu vực 3 - H.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- H tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2025/TL - HSST ngày 08 tháng 09 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2025/ QĐXXHS – ST ngày 08/09/2025 đối với bị cáo:
Lê Vũ Việt A - sinh năm 2006
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tại bản cáo trạng số 58 /CT-VKS-HS ngày 04 tháng 09 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - H đã truy tố Lê Vũ Việt A về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cơ quan điều tra.
Đại diện Viện kiểm sát kết luận phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Lê Vũ Việt A về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự Đề nghị Hội đồng xét xử: -Áp dụng khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51 , điều 56, điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Vũ Việt A từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý ”
Tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt của bản án số 329 ngày 28/11/2023 của Toà án nhân dân quận N nay là Toà án nhân dân Khu vực 4 - H xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng” . Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 bản án từ 3 năm 9 tháng tù đến 4 năm 3 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/05/2025. -Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự -Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo hiện đang bị tạm giam, điều kiện kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo -Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý đã thu giữ của bị cáo Tịch thu 2 chiếc điện thoại của bị cáo -Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. -Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau :
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H
- thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra. Vậy có đủ cơ sở kết luận:
Xét thấy hành vi của bị cáo đã vi phạm pháp luật. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Tại phiên toà bị cáo A đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo bản cáo trạng và lời luận tội của Viện kiểm sát. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Vũ Việt A về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - H truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma tuý, làm lan truyền tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, là nguyên nhân dẫn đến những vi phạm pháp luật khác, tác động xấu tới tình hình trật tự trị an xã hội ở địa phương. Xét nhân thân bị cáo có 1 tiền án chưa được xoá tuy nhiên với bản án này bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên không tính trường hợp bị tái phạm nhưng cần phải tổng hợp hình phạt của bản án này với bản án trước buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của cả hai bản án theo quy định tại điều 56 Bộ luật hình sự. Do đó cần thiết phải áp dụng một hình phạt thật nghiêm khắc, đủ dài đối với bị cáo để bị cáo có cơ hội để đoạn tuyệt với ma túy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình. Do đó cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
-Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo đang bị tạm giam ,về điều kiện kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
-Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý đã thu giữ của bị cáo Tịch thu xung công 2 chiếc điện thoại của bị cáo
-Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
-Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1điều 51, điều 56, điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Vũ Việt A 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tổng hợp hình phạt của bản này với hình phạt của bản án số 329 ngày 28/11/2023 của Toà án nhân dân quận N nay là Toà án nhân dân khu vực 4 - H xử phạt bị cáo 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “gây rối trật tự công cộng”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 bản án là 3 năm 9 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/05/2025
*Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý đã thu giữ của bị cáo
Tịch thu xung công 1 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro màu tím có số imel 1: 359666229159582, Imeil 2: 359666229888610 và 1 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng có số imel: 359407089998508 đã qua sử dụng của bị cáo Vật chứng trên hiện đang bảo quản tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 - H theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 2025/KV3 - 031 GN / THA - CA ngày 04/09/2025
* Về án phí:
Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 nghị quyết 326/2016 /UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội
Buộc bị cáo Lê Vũ Việt A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo:
Căn cứ điều 331,333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận : - Bị cáo - Tòa án NDTP H -VKSND TP H - Viện kiểm sát ND khu vực 3 - H - Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 - H - Lưu hồ sơ. | Trần Thị Thúy Hà |