vanban.org

Bản án 63/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 09/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Trọng L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Trọng L 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/9/2024. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đựng trong 01 phong bì niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, được đóng dấu của phòng kỹ thuật hình sự, kèm theo chữ ký, ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Trọng L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Trọng L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 63/2025/HS-ST
Ngày: 09/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Quỳnh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Cát Tưởng

2. Bà Nguyễn Thị Minh Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Minh Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Dung - Kiểm sát Viên

Ngày 09/01/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:

Đỗ Trọng L – Sinh năm 2003; tại Thanh Hóa; Số căn cước công dân: 038203000181; Nơi đăng ký NKTT và nơi ở: Thôn A, xã T, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Trọng H (đã chết) và bà Phạm Thị X, Vợ, con: chưa; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/9/2024 đến ngày 18/9/2024 chuyển tạm giam, hiện đnag bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 30 phút ngày 08/9/2024, tại trước số nhà 541 H, phường Đ, thành phố Thanh Hóa, Tổ tuần tra 282 phía nam của Công an thành phố Thanh Hóa kiểm tra, phát hiện Đỗ Trọng L điều khiển xe mô tô Exciter BKS 36AC - 542.85 có biểu hiện bỏ chạy khi thấy lực lượng tuần tra. Quá trình kiểm tra, L ném xuống đất ngay vị trí bị kiểm tra 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long, tổ công tác yêu cầu L nhặt lên giao nộp. Kiểm tra bên trong vỏ bao thuốc lá gồm có 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa 03 viên nén hình tròn màu đỏ và 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (1x1)cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng. Tại chỗ, L khai nhận đó là 03 viên ma túy hồng phiến và túi ma túy đá của L cất giấu để sử dụng. Sau đó, đưa L về trụ sở Công an phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa lập biên bản và thu giữ tang vật.

Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Trọng L xin đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Thông qua ứng dụng mạng xã hội Facebook, L có số điện thoại của một người đàn ông tên T, khoảng hơn 40 tuổi (không biết nhân thân, lai lịch). Tối ngày 08/9/2024, L sử dụng số điện thoại 0867773203 gọi vào số điện thoại 0943484886 của T hỏi mua 03 viên hồng phiến và 01 túi ma túy đá với giá tiền 500.000đ. T đồng ý rồi hẹn L đến khu vực gần cầu Đèn, đường Hàm Nghi, phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa để giao dịch. Tại điểm hẹn, L gặp và mua được của một người đàn ông điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave không biển kiểm soát, dáng người gầy, đeo khẩu trang 03 viên ma túy hồng phiến và 01 túi ma túy đá được đựng trong 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long. Sau khi mua được ma túy, L cất vào túi quần và đi về. Khi đến trước số nhà 541 Hàm Nghi, phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa thì bị Tổ công tác Công an thành phố Thanh Hóa kiểm tra, phát hiện thu giữ tang vật.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật, phương tiện, tài liệu tại chỗ ở của Đỗ Trọng L tại địa chỉ thôn A, xã T, thành phố Thanh Hóa nhưng không thu giữ được gì.

Tại Bản kết luận giám định số 3344/KL-KTHS ngày 16/9/2024 của Phòng kỹ thuận hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: 03 viên nén hình tròn của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,286g loại Methamphetamine; Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,155g loại Methamphetamine.

Căn cứ lời khai của Đỗ Trọng L và kết quả kiểm tra thông tin chủ thuê bao của số điện thoại 0943484886 là của Nguyễn Văn T, sinh năm 1980, trú tại H, phường Đ, thành phố Thanh Hóa. Triệu tập làm việc với T, T khai báo có đăng ký và sử dụng số điện thoại 0943484886 được 5 năm, nhưng hiện tại T không còn sử dụng do đã mất cách đây khoảng 1 năm. Tiến hành đối chất giữa Đỗ Trọng L và Nguyễn Văn T, T khai không quen biết L và cũng không bán ma túy cho bất kỳ ai. Đỗ Trọng L khai không biết người đối diện (Nguyễn Văn T) với L là ai. Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát thu thập camera, người chứng kiến, người biết việc nhưng tại khu vực từ cầu Đèn, phường Đông Hương đến khu vực ngõ 533 Hàm Nghi, phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa không có camera, không có người chứng kiến, người biết việc. Ngoài lời khai của Đỗ Trọng L, không có thêm tài liệu chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Văn T

Đối người đàn ông đã bán ma túy cho L tại khu vực cầu Đèn, phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người đàn ông đó là ai nên không có căn cứ để xử lý.

Tại bản cáo trạng số: 10/CT-VKSTPTH ngày 10/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá đã truy tố Đỗ Trọng L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS;

Tại phiên tòa đại diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS. Mức hình phạt VKS đề nghị đối với bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù.

Ngoài ra VKS còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì với đại diện VKS.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội:

Hồi 20 giờ 30 phút ngày 08/9/2024, tại khu vực cầu Đèn, phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa. Tổ công tác Công an phường Đông Hương phối hợp với đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an thành phố Thanh Hóa, kiểm tra hành chính, phát hiện Đỗ Trọng L đang có hành vi tàng trữ 0,441g ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội nêu trên của Đỗ Trọng L có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như cáo trạng của VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là hiểm họa cho toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm suy thoái kinh tế, làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Là một trong những tác nhân gây lây lan căn bệnh HIV/AIDS, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của giống nòi. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy, chỉ vì thỏa mãn nhu cầu của mình mà lao vào con đường phạm tội. Vì vậy tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải xử lý nghiêm minh.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, đầu thú, bản thân bị cáo có thời gian tham gia quan đội và được tặng danh hiệu “Thanh niên tiên tiến làm theo lời bác, xứng danh bộ đội Cụ Hồ” nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Căn cứ vào nhân thân, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và tính chất nghiêm trọng của tội phạm ma túy, cần áp dụng Điều 38 BLHS để cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Do bị cáo không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định trong phong bì niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa là vật nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, nên căn cứ Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO bên trong gắn sim số 0867773203 bị cáo dùng để liên lạc mua mua túy và 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA-Exciter biển kiểm soát 36AC-542.85 của Đỗ Trọng L, L dùng để đi mua ma túy đều là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS để tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a khoản 2, Điều 106; Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Trọng L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Trọng L 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/9/2024.

Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đựng trong 01 phong bì niêm phong của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, được đóng dấu của phòng kỹ thuật hình sự, kèm theo chữ ký, chữ viết của Lê Minh T, Trịnh Thị Thu H.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe: Exciter, màu sơn: đỏ - đen, biển số: 36AC-542.85; số khung RLCUG1010NY371433; số máy: G3D4E1142472; Xe không có gương chiếu hậu, xe cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong. Kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 36 004928 mang tên Đỗ Trọng L, trú tại phố 6, Thiệu Vân, TP. Thanh Hóa của xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe: EXCITER, màu sơn: đỏ - đen, biển số: 36AC – 541.85.

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, Imel: 86394407125419, điện thoại không có nắp lưng mặt sau, được ốp trực tiếp bằng ốp nhựa điện thoại màu đen có hoa văn, điện thoại gắn kèm sim.

Hiện số vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số 34/THA ngày 20/12/2024 giữa Công an thành phố Thanh Hóa với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ