- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Kim S cùng đồng phạm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Trần Kim S (Bo), Phan Hồ Thái N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2025/HS-ST Ngày 09 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Huỳnh Sinh.
2. Bà Lê Thị Thu Sương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Ông Từ Sĩ Trần Thuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang
- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2025/HS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Trần Kim S (tên gọi khác: B), sinh năm 1992 tại tỉnh Ninh Thuận. Nơi cư trú: Khu phố 6, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận. Chỗ ở: Khu phố 2, phường P, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Trần Kim P và bà Nguyễn Thị H; vợ con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 28/7/2008, bị Công an thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt Cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp vặt”.
Ngày 23/9/2009, bị Công an thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi “Đánh nhau”.
Ngày 15/8/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Ngày 30/11/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 11/10/2024 hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Phan Rang - Tháp Chàm, Trại tạm giam công an tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
2. Phan Hồ Thái N, sinh năm 1989 tại tỉnh Ninh Thuận. Nơi cư trú: Khu phố 1, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận. Chỗ ở: Khu phố 2, phường P, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Con ông Phan Tấn Đ và bà Hồ Thị K (đã chết); có 05 con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 29/5/2023, bị Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị cáo tại ngoại, đang thực hiện lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
3. Nguyễn Thị T, sinh năm 1992 tại tỉnh Khánh Hoà. Nơi cư trú: Khu phố 8, phường K (địa chỉ cũ là khu phố 2, phường T), thành phố P, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Con ông Huỳnh Văn T và bà Nguyễn Thị M; có chồng là Trần Ngọc P và có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, đang thực hiện lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Khắc S1, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Khu phố 2, phường P, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận. Chỗ ở: Khu phố 2, phường V, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy và cần tiền tiêu xài cá nhân nên vào ngày 08/10/2024, Trần Kim S và Phan Hồ Thái N thống nhất với nhau mua ma túy đá về để bán kiếm lời. Sau đó, S đi vào khu vực gần bến xe An Sương, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh mua của một nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 bịch ma túy đá với giá 800.000 đồng đem về nhà tại số 96/40A đường Đ thuộc khu phố 2, phường P, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận sử dụng và phân chia nhỏ bán kiếm lời. Đến khoảng 14 giờ ngày 11/10/2024, Nguyễn Thị T sử dụng Zalo tên “Vương cô độc” liên hệ với N qua Zalo “Phan Nguyên”, hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, N đồng ý bán ma tuý cho T. Đồng thời, T nói sẽ đến nhà N tại số nhà 96/40A Đ, Khu phố 2, phường P, thành phố P để nhận ma túy và nói N phân bịch ma túy đá ra làm thành 02 tép nhỏ. N nói cho Sự biết việc T hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá, thì S đồng ý. Sau đó, T mượn xe mô tô hiệu Honda Click biển kiểm soát 85B1-038.29, màu đen của ông Nguyễn Khắc S1 đi đến nhà N. Đến nơi, N nói S đi ra ngoài giao ma túy cho T. Thấy vậy, T điều khiển xe chạy ra trước, còn S lấy xe mô tô hiệu Honda Click, màu trắng, biển số 85B1-180.38 của ông Phan Tấn Đ (là cha của bị cáo N) chạy ra khoảng 100m thì S dừng lại đưa 01 tép ma tuý cho T, T nói với S “Ủa, sao không xắn ra làm hai”, S nói lại “Bà chạy về nhà đi nói Trang (tức là N) làm cho”. Sau đó T đưa cho S 500.000 đồng rồi quay lại gặp N nói: “Tui dặn bà phân cho tui thành hai cái rồi mà”, N nói “Tui chưa xem tin nhắn”. Rồi T lấy kéo, mảnh nylon, quẹt gas, rồi vào nhà vệ sinh trong phòng ngủ của N và S tự mình phân chia tép ma túy vừa mua được thành 02 tép, T cất 01 tép ma túy nhỏ vào túi quần bên phải, còn 01 tép ma túy lớn cầm trong tay trái rồi điều khiển xe đi đến siêu thị Coopmart Thanh Hà. Khi đi đến gần trước khu vực siêu thị Coopmart Thanh Hà thì bị lực lượng Công an kiểm tra. Do lo sợ nên T ném bịch ma túy cầm trên tay trái xuống bệ gác chân xe mô tô. Lúc này, lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và tạm giữ 01 bịch nylon được hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng, dạng rắn, nghi là ma túy (Ký hiệu M1.1) ở dưới bệ gác chân xe máy hiệu Honda Click, biển số 85B1-038.29 và trong túi quần bên phải phía trước của T 01 bịch nylon được hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng, dạng rắn, nghi là ma túy (Ký hiệu M1.2), đồng thời tạm giữ đồ vật phương tiện liên quan.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại khu phố 2, phường V, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận, đã tạm giữ: 01 kéo bằng kim loại màu trắng, 01 quẹt gas, 01 ống hút nước, 01 đoạn ống hút nước 01 đầu được cắt nhọn.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Thuận tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phan Hồ Thái N tại số nhà 96/40A đường Đ, khu phố 2, phường P, thành phố P, đã tạm giữ: 01 gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng, nghi là ma túy (Ký hiệu M2); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa trong suốt, được đậy kín bằng nắp nhựa, bên trên nắp nhựa đục 02 lỗ và được gắn 01 nỏ thủy tinh cùng 01 ống hút nước bằng nhựa, bên trong nỏ thủy tinh có chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy (Ký hiệu M3); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai thủy tinh có nắp đậy bằng kim loại màu vàng, nắp đậy được đục 01 lỗ gắn 01 nỏ thủy tinh bên trong nỏ thủy tinh dính chất màu nâu trắng, nghi là ma túy (Ký hiệu M4), trên thân chai thủy tinh đục 01 lỗ và được gắn 01 đoạn ống hút nước bằng nhựa màu vàng; 01 hộp cattong màu trắng, bên trong hộp cattong có: 01 nỏ thủy tinh có dính chất màu nâu trắng, nghi là ma túy (Ký hiệu M5); 01 bịch nylon được hàn kín 03 mép bịch, 01 đầu được cắt nhọn chưa qua sử dụng; 01 hộp quẹt gas đã được gỡ phần kim loại, gắn 01 ống tròn bằng kim loại.
Quá trình điều tra, Trần Kim S khai nhận: Số ma tuý và đồ vật bị tạm giữ là của S, trong đó: Số ma túy đồ vật (ký hiệu M2, M3) là S tàng trữ vào mục đích mua bán; số ma túy đồ vật (ký hiệu M4, M5) là S tàng trữ để sử dụng.
Tại Bản kết luận giám định số 258/KL-KTHS ngày 14/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận kết luận:
+ Chất tinh thể màu trắng (Ký hiệu M1.1, M1.2, M2, M3) và chất màu nâu trắng (Ký hiệu M4, M5) gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng của mẫu gửi giám định lần lượt là: M1.1 có khối lượng: 0,2007gam; M1.2 có khối lượng: 0,0519 gam; M2 có khối lượng: 0,3684 gam; M3 có khối lượng: 0,0915 gam; M4 có khối lượng: 0,0212 gam; M5 có khối lượng: 0,0202 gam.
+ Khối lượng mẫu vật hoàn trả lại sau giám định là: M1.1: 0,1477 gam; M2: 0,3343 gam; M3: 0,0511 gam; M1.2, M4, M5 đã sử dụng hết trong quá trình giám định, trả lại mẫu vật cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.
Bản Cáo trạng số 32/CT-VKSPRTC ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận truy tố các bị cáo Trần Kim S và Phan Hồ Thái N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Các bị cáo thừa nhận diễn biến sự việc xảy ra như nội dung cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Trần Kim S và Phan Hồ Thái N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Kim S từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 04 (bốn) năm tù.
+ Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phan Hồ Thái N từ 03 (ba) năm tù đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
+ Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù.
Về biện pháp tư pháp:
- Đề nghị tịch thu tiêu hủy:
+ 01 túi niêm phong mã số: NS1 2112287 bên trong có 01 gói niêm phong là mẫu vật hoàn lại sau giám định.
+ 01 kéo bằng kim loại màu trắng; 01 quẹt gas; 01 ống hút nước; 01 đoạn ống hút nước 01 dầu cắt nhọn.
+ 01 hộp giấy catton màu trắng bên trong có 01 gói nylon ba mặt kín, 01 mặt hở; 01 đoạn ống nhựa màu xanh trắng 01 đầu cắt nhọn; 01 quẹt gas đã gỡ phần kim loại gắn 01 ống tròn bằng kim loại.
- Đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước:
+ 01 điện thoại di động loại cảm ứng hiệu OPPO màu hồng màn hình bị nứt vỡ, mật khẩu mở màn hình 040313, gắn sim 0903300459, SỐ IMEI 1: 86812504288954, số IMEI 2: 868125042888947 của Phan Hồ Thái N.
+ 01 gói niêm phong bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đỏ, gắn sim 1 số 0799756357, sim 2 số 0925770041, số IMEI 1: 865871040452854/01, số IMEI 2: 865871040452862/01 của Nguyễn Thị T.
Buộc các bị cáo Trần Kim S và Phan Hồ Thái N phải giao nộp số tiền 500.000 đồng thu lợi bất chính để sung ngân sách nhà nước.
Các bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng:
Bị cáo N: Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có điều kiện chăm sóc các con nhỏ.
Bị cáo T: Bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, xin được giảm nhẹ hình phạt để có điều kiện chăm sóc con nhỏ.
Bị cáo S: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, xét việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử các bị cáo căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở để xác định:
Ngày 11/10/2024, trên địa bàn thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, bị cáo Trần Kim S và bị cáo Phan Hồ Thái N đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine cho bị cáo Nguyễn Thị T, thu được số tiền 500.000 đồng. Khối lượng ma túy thu giữ khi khám xét của bị cáo S và bị cáo N là 0,4599 gam Methamphetamine nhằm mục đích mua bán. Đối với bị cáo T đã bị lực lượng Công an bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 0,2526 gam chất ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận truy tố các bị cáo S, N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên phải xử lý nghiêm minh cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể cải tạo, giáo dục trở thành công dân có ích cho xã hội. Đây là vụ án đồng phạm, nguồn gốc số ma túy là do bị cáo S mua của người khác, các bị cáo thống nhất bàn bạc việc bán ma túy cho bị cáo T, bị cáo S là người trực tiếp nhận tiền, giao ma túy cho bị cáo T, nên phải chịu mức án cao hơn bị cáo N. bị cáo N là người liên hệ, trao đổi việc mua bán ma túy với bị cáo T, do đó hành vi của bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm nên chịu mức án thấp hơn.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo S, N có nhân thân xấu, bị cáo S đã 02 lần bị kết án, 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo N 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính.
Các bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, riêng bị cáo S có cha là ông Trần Kim P là người có công với cách mạng đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử cân nhắc khi lượng hình mức án phù hợp cho các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 túi niêm phong mã số: NS1 2112287 bên trong có 01 gói niêm phong là mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm M1.1: 0,1477 gam; M2: 0,3343 gam; M3: 0,0511 gam chất ma túy, loại Methamphetamine. Đối với 01 kéo bằng kim loại màu trắng; 01 quẹt gas; 01 ống hút nước; 01 đoạn ống hút nước 01 đầu cắt nhọn. Đối với 01 hộp giấy catton màu trắng bên trong có 01 gói nylon ba mặt kín, 01 mặt hở; 01 đoạn ống nhựa màu xanh trắng 01 đầu cắt nhọn; 01 quẹt gas đã gỡ phần kim loại gắn 01 ống tròn bằng kim loại. Đây là ma túy, công cụ liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.
Đối với 01 điện thoại di động loại cảm ứng hiệu OPPO màu hồng màn hình bị nứt vỡ, mật khẩu mở màn hình 040313, gắn sim 0903300459, SỐ IMEI 1: 86812504288954, số IMEI 2: 868125042888947 của Phan Hồ Thái N. Đối với 01 gói niêm phong bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đỏ, gắn sim 1 số 0799756357, sim 2 số 0925770041, số IMEI 1: 865871040452854/01, số IMEI 2: 865871040452862/01 của Nguyễn Thị T. Đây là điện thoại của bị cáo N và bị cáo T dùng để liên lạc mua bán ma túy nên Hội đồng xét xử tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước là có căn cứ.
Đối với sim 2 điện thoại số 0925770041. Quá trình điều tra xác định bị cáo T sử dụng sim số điện thoại di động trên để liên lạc cá nhân hàng ngày, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phan Rang-Tháp Chàm trả lại cho T là có cơ sở.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Click màu đen, biển số 85B1- 038.29 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Khắc S1, ông S1 cho bị cáo T mượn xe nhưng không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan điều tra đã giao trả xe mô tô trên cho ông S1 là có căn cứ.
Đối với xe mô tô hiệu Honda Click, màu trắng, biển số 85B1-180.38 do ông Phan Tấn Đ làm chủ sở hữu, ông Đ cho bị cáo S mượn xe nhưng không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan điều tra đã không thu giữ xe và không đề nghị xử lý là có cơ sở.
Đối với số tiền 500.000 đồng do các bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán trái phép chất ma túy nên Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải nộp lại để sung ngân sách Nhà nước là có căn cứ, chia phần mỗi bị cáo có nghĩa vụ phải nộp là 250.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo T khai nhận mua ma túy của bị cáo S và bị cáo N dùng để bán cho người có số điện thoại 0829992676, bị cáo không biết nhân thân, lai lịch địa chỉ, không nhận dạng được mặt, hình dáng của người mua ma túy. Qua xác minh, xác định ông Đỗ Thành T đứng tên chủ thuê bao số điện thoại. Quá trình điều tra, ông T khai nhận từ trước đến nay chưa gặp và không quen biết với bị cáo T, không có liên lạc, trao đổi mua ma túy với bị cáo T, nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý ông T.
Đối với các bị cáo T, N, S đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, ngoài ra bị cáo S có hành vi tàng trữ trái phép 0,0414 gam Methamphetamine. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận đã chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan đến Cơ quan Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm để xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền là có căn cứ.
Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho bị cáo S. Quá trình điều tra, chưa xác định được nhân thân, lai lịch, do đó đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo S.
2. Căn cứ: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo N.
Tuyên bố: Các bị cáo Trần Kim S (Bo), Phan Hồ Thái N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Kim S (B) 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 11/10/2024.
Xử phạt: Bị cáo Phan Hồ Thái N 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
3. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
01 túi niêm phong mã số: NS1 2112287 bên trong có 01 gói niêm phong là mẫu vật hoàn lại sau giám định, theo Kết luận giám định số 258/KL-KTHS ngày 14/10/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận, bên ngoài gói niêm phong có dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh, chữ ký và họ tên của Nguyễn Nghi Anh, Đoàn Văn Cường. Phía ngoài túi niêm phong có chữ ký và họ tên của Nguyễn Nghi Anh, Đoàn Văn Cường, Phan Viết Toại.
01 kéo bằng kim loại màu trắng; 01 quẹt gas; 01 ống hút nước; 01 đoạn ống hút nước 01 đầu cắt nhọn. Bên ngoài dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có dấu tròn đỏ của Công an phường Văn Hải, thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, chữ ký và họ tên của Hoàng Mạnh Quân, Mai Văn Toản, Nguyễn Thị T.
01 hộp giấy catton màu trắng bên trong có 01 gói nylon ba mặt kín, 01 mặt hở; 01 đoạn ống nhựa màu xanh trắng 01 đầu cắt nhọn; 01 quẹt gas đã gỡ phần kim loại gắn 01 ống tròn bằng kim loại. Bên ngoài dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có dấu tròn đỏ của Công an phường Phước Mỹ, thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, chữ ký và họ tên của Trần Quang Trung, Phan Viết Toại, Nguyễn Văn Thiện, Trần Kim S.
- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước:
01 điện thoại di động loại cảm ứng hiệu OPPO màu hồng màn hình bị nứt vỡ, mật khẩu mở màn hình 040313, gắn sim 0903300459, SỐ IMEI 1: 86812504288954, số IMEI 2: 868125042888947. Bên ngoài dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có dấu tròn đỏ của Công an phường Phước Mỹ, thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, chữ ký và họ tên của Trần Quang Trung, Phan Viết Toại, Nguyễn Văn Thiện, Phan Hồ Thái N.
01 gói niêm phong bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đỏ, gắn sim 1 số 0799756357, sim 2 số 0925770041, số IMEI 1: 865871040452854/01, số IMEI 2: 865871040452862/01. Bên ngoài dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có dấu tròn đỏ của Công an phường Phủ Hà, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, chữ ký và họ tên của Trần Quang Trung, Phan Viết Toại, Phạm Anh Chiến, Nguyễn Thị T.
(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phan Rang – Tháp Chàm và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – Tháp Chàm).
- Buộc các bị cáo Trần Kim S (B), Phan Hồ Thái N mỗi người phải nộp lại số tiền 250.000 đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng) thu lợi bất chính để sung Ngân sách nhà nước.
5. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Trần Kim S (B), Phan Hồ Thái N và Nguyễn Thị T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai, có mặt các bị cáo quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/4/2025); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND TP. Phan Rang - Tháp Chàm; - Công an tỉnh Ninh Thuận; - Chi cục THADS TP. PR-TC; - CQ THAHS CA tỉnh Ninh Thuận; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận; - Bị cáo; Người liên quan; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diệu |