vanban.org

Bản án 63/2025/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCPSGTT về việc buộc bà ĐHKT phải trả ngay tổng số tiền 39.

Bà ĐHKT còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh từ ngày 02/8/2025 theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi trả dứt nợ vay. Về án phí: Bà ĐHKT phải chịu 1.999.613 đồng (một triệu ,chín trăm chín mươi chín ngàn, sáu trăm mười ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCPSGTT về việc buộc bà ĐHKT phải trả ngay tổng số tiền 39.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:63/2025/DSST
Ngày: 01/8/2025
V/v: tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Nguyễn Kiên Hiển

2- Ông Nguyễn Bá Duy Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thủy Trang - Cán bộ Toà án nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hường – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 955/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 243/2025/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 336/2025/QĐST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2025/QĐXXST-DS; ngày 09 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCPSGTT.

Trụ sở: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông TGT là người đại diện theo ủy quyền (Ông T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Bà ĐHKT, sinh năm 1997

Địa chỉ: Nguyễn Đình Chiểu, phường Bàn Cờ, Thành phố Hồ Chí Minh.(Bà T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP SGTT có ông TGT đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 19/02/2020, bà ĐHKT có ký với Ngân hàng TMCP SGTT (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Ngân hàng phát hành cho bà ĐHKT loại thẻ Master Card, số thẻ 526830 – 5115; Hạn mức: 16.000.000 đồng; Lãi suất áp dụng 2.766%/tháng.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 144.870.384 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 138.180.697 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), nên ngày 23/5/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 18.925.912 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn.

Do bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu bà T phải trả số tiền còn thiếu tính đến ngày 01/8/2025 là 39.918.262 đồng, trong đó: Nợ gốc: 18.925.912 đồng và Nợ lãi quá hạn: 20.992.350 đồng.

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với bà T, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trà nợ, tuy nhiên bà T vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng.

Do đó, Ngân hàng TMCPSGTT khởi kiện yêu cầu:

- Buộc bị đơn bà ĐHKT phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 01/8/2025 là 39.918.262 đồng, trong đó:

+ Nợ gốc: 18.925.912 đồng

+ Nợ lãi quá hạn: 20.992.350 đồng

- Về trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 02/8/2025 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn bà ĐHKT: Đã được Tòa án triệu tập để tự khai, hòa giải, xét xử nhưng vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 phát biểu quan điểm: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp và thụ lý đúng thẩm quyền. Quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa hôm nay thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định pháp luật tố tụng, các đương sự đã chấp hành đúng theo qui định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung, căn cứ thỏa thuận của hợp đồng tín dụng hai bên ký kết phù hợp quy định pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng TMCPSGTT khởi kiện bà ĐHKT yêu cầu thanh toán nợ từ hợp đồng tín dụng nên đây là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại Quận 3 nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 3.

[2] Bị đơn bà ĐHKT đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà ĐHKT theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về nội dung yêu cầu khởi kiện: Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 19/02/2020 có chữ ký xác nhận giữa bên cho vay là Ngân hàng và bên vay là bà ĐHKT thể hiện Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho bà ĐHKT với hạn mức 16.000.000 đồng.

Thực hiện hợp đồng tín dụng, bà ĐHKT đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 23/5/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà ĐHKT, chuyển toàn bộ số nợ của bà ĐHKT sang nợ quá hạn theo Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Xét thấy, trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà ĐHKT đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 2 Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng, Ngân hàng yêu cầu bà ĐHKT thanh toán toàn bộ số nợ gốc 18.925.912 đồng là có căn cứ.

Về lãi suất: Xét mức lãi suất 2,766%/tháng của bà ĐHKT trong suốt quá trình vay là phù hợp Điều 23 Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng và quy định pháp luật. Do bà ĐHKT không thanh toán số nợ đúng thời hạn nên ngoài nợ gốc, bà ĐHKT còn phải chịu lãi quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn (4,149%/năm), cụ thể là 20.992.350 đồng tính đến ngày xét xử sơ thẩm.

Ngoài ra, bà ĐHKT còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh từ ngày 02/8/2025 theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng cho đến khi trả dứt nợ vay.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo qui định tại Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 280; Điều 351; Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCPSGTT về việc buộc bà ĐHKT phải trả ngay tổng số tiền 39.918.262 đồng (ba mươi chín triệu, chín trăm mười tám ngàn, hai trăm hai mươi sáu đồng) một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật phát sinh từ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 19/02/2020, trong đó, nợ gốc là : 18.925.912 đồng và nợ lãi quá hạn: 20.992.350 đồng.

Bà ĐHKT còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh từ ngày 02/8/2025 theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi trả dứt nợ vay.

2. Về án phí: Bà ĐHKT phải chịu 1.999.613 đồng (một triệu ,chín trăm chín mươi chín ngàn, sáu trăm mười ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí là 653.755 đồng (sáu trăm năm mươi ba ngàn, bảy trăm năm mươi lăm đồng) cho Ngân hàng theo Biên lai tạm ứng án phí số 0009409 ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo:

Ngân hàng TMCPSGTT và bà ĐHKT được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ