- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo LÊ HOÀI T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 63/2024/HS-ST Ngày: 20/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Võ Văn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn Minh;
2. Ông Nguyễn Thanh Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Đạc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thái Thuận – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
LÊ HOÀI T - Sinh năm 1981 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn 2, xã HĐức, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn H và bà Trần Thị O; Có vợ tên Nguyễn Thị N và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt.
Bị hại: Phan Thị Bích D - Sinh năm 1984 (đã chết). Địa chỉ: Thôn 3, xã HSơn, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo pháp luật của bị hại bà Phan Thị Bích D:
1/ Ông Phan Văn H – Sinh năm 1955 (có mặt);
2/ Bà Nguyễn Thị Y – Sinh năm 1960 (có mặt); Cùng địa chỉ: Thôn 1, xã HSơn, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận
3/ Anh Trần Thanh P – Sinh năm 2005 (có mặt). Địa chỉ: Thôn 3, xã HSơn, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận
Người làm chứng:
1/ Ông Nguyễn Văn H – Sinh năm 1982 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn LTrung, xã LSơn, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.
2/ Bà Huỳnh Thị S – Sinh năm 1989 (có mặt). Địa chỉ: Thôn 3, xã HSơn, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 22/10/2023, LÊ HOÀI T nhậu với bạn ở gần nhà Trọng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Trọng điều khiển xe mô tô biển số 86B2-595.62, đi từ thôn 2, xã Hàm Đức, ra đường QL 1A rồi di chuyển theo hướng Nam - Bắc, để đến chỗ làm việc ở xã Bình Tân, huyện Bắc Bình. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực Km1683 +830m, quốc lộ 1A, thuộc thôn 2, xã Hồng Sơn, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận là đoạn đường nằm trong khục vực đông dân cư không, Trọng điều khiển xe đi ở làn đường ngoài cùng dành cho xe mô tô và xe thô sơ. Do không chú ý quan sát và không giữ khoảng cách an toàn với xe phía trước nên Trọng đã để xe tông vào đuôi xe mô tô biển số 86B3-342.28 do chị Phan Thị Bích D điều khiển chạy cùng chiều phía trước. Hậu quả: chị Diệu bị thương, được đưa đến Bệnh viện đa khoa An Phước cấp cứu, đến ngày 24/10/2023 thì tử vong; LÊ HOÀI T bị thương, được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Thuận cấp cứu và điều trị, đến ngày 07/11/2023 thì xuất viện.
Biên bản khám nghiệm hiện trường kèm theo sơ đồ hiện trường do Công an huyện Hàm Thuận Bắc lập lúc 23 giờ 50 phút ngày 22/10/2023 tại Km 1683+830m, đường Quốc lộ 1A thuộc thôn 2, xã Hồng Sơn được thể hiện:
Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, mặt đường được rải nhựa tương đối bằng phẳng. Đường được chia thành 02 phần đường xe chạy ngược chiều nhau, bởi dải phân cách cố định bằng bê tông, mỗi phần đường có 03 làn đường gồm: làn đường xe mô tô và xe thô sơ; làn đường xe mô tô và xe ô tô (làn đường ở giữa) và làn đường dành cho xe ô tô (làn đường tiếp giáp dải bê tông phân cách 02 phần đường), trong đó, làn mô tô, xe thô sơ rộng 2m, 02 làn đường còn lại mỗi làn rộng 3,5m, xung quanh dọc theo đường có nhà dân sinh sống.
Chọn mép đường nhựa phải (hướng Phan Thiết – Phan Rang) làm chuẩn.
Vết cày xước mặt đường nhựa kích thước (21,7 x 0,015)m được đánh số (1) trên sơ đồ hiện trường, nằm hoàn toàn trên làn đường xe thô sơ, xe mô tô ở phần đường phải (hướng Phan Thiết-Phan Rang), vết cày có chiều hướng Phan Thiết - Phan Rang, đầu và cuối vết cày cách mép chuẩn lần lượt là 1,5m và 0,16m.
Vết cày xước mặt đường nhựa kích thước (22,25 x 0,01)m được đánh số (2) trên sơ đồ hiện trường, nằm trên làn đường xe thô sơ, xe mô tô phần đường phải hướng Phan Thiết - Phan Rang. Đầu vết (2) cách mép chuẩn 2m và cách đầu vết (1) là 0,54m, cuối vết (2) nằm dưới gác chân trước bên phải xe mô tô biển số 86B3-342.28, vết có chiều hướng Phan Thiết - Phan Rang.
Xe mô tô biển số 86B2-595.62 được đánh số (3) trên sơ đồ hiện trường, ngã nằm về bên phải của xe, trên làn đường xe thô sơ và xe mô tô của phần đường phải (hướng Phan Thiết - Phan Rang), đầu xe quay về hướng dải phân cách cố định bê tông hơi chếch về hướng Phan Rang, đuôi xe quay về hướng lề phải đường hơi chếch về hướng Phan Thiết. Trục trước bánh xe cách mép chuẩn 0,1m và cách cuối vết cày (1) là 0,5m, trục bánh sau xe cách mép chuẩn 0,85m.
Xe mô tô biển số 86B3-342.28 được đánh số (4) trên sơ đồ hiện trường, ngã nằm về bên phải của xe, đầu xe quay về hướng Phan Thiết, đuôi xe quay về hướng Phan Rang; trục bánh trước xe cách mép chuẩn 0,85m và cách trục bánh trước xe (3) là 0,84m, trục bánh sau xe cách mép chuẩn 0,97m; trục bánh trước xe cách điểm mốc 14,5m, trục bánh sau xe cách điểm mốc 13,5m.
Vết máu kích thước (0,53 x 0,3)m được đánh số (5) trên sơ đồ hiện trường, nằm trên mặt đường nhựa làn đường xe mô tô và xe thô sơ phần đường phải (hướng Phan Thiết - Phan Rang), tâm vết máu cách trục trước bánh xe đánh số (4) là 1,06m và cách mép chuẩn 0,37m.
Vết máu kích thước (0,3 x 0,2)m, được đánh số (6) trên sơ đồ hiện trường, nằm ở phần đất giáp với mép chuẩn, tâm vết máu cách trục bánh trước xe đánh số (3) là 0,5m và cách mép chuẩn 0,1m.
Vùng mảnh vỡ kích thước (24 x 2,9)m, được đánh số (7) tập trung chủ yếu ở làn đường xe mô tô và thô sơ, tâm đầu vết (7) cách mép chuẩn 0,65m và cách đầu vết cày (1) là 1,1m, tâm cuối vết (7) cách mép chuẩn 0,1m.
Chọn bảng Km1683 + 800m được đặt trên dải phân cách cố định bê tông ở giữa đường quốc lộ 1A làm điểm mốc.
Các biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông do Công an huyện Hàm Thuận Bắc lập ngày 23/10/2023 đối với xe mô tô biển số 86B3-342.28 và xe mô tô biển số 86B2-595.62 được thể hiện như sau:
Xe mô tô biển số 86B3-342.28: Gương chiếu hậu phải cong về sau; gương chiếu hậu trái vỡ; đầu tay cầm lái phải trầy xước kim loại kích thước (03x0,8)cm; tay thắng phải gãy; cụm đèn sương mù, xi nhan trái, phải sau đuôi xe vỡ, móp có chiều hướng từ sau ra trước; biển số xe gãy rời khỏi xe; dè chắn bùn sau đuôi xe vỡ; niềng bánh xe sau cong vênh, hướng từ ngoài vào trục bánh xe, kích thước (17 x 4)cm, để lộ ruột xe ra ngoài; gác chân trước phải trầy xước kim loại kích thước (1,5 x 1,5)cm; ốp bô xe bằng kim loại trầy xước kích thước (7,5 x 3,5)cm.
Xe mô tô biển số 86B2-595.62: Gương chiếu hậu phải vỡ, cọng gương xoay tròn; mặt nạ nhựa trước đầu xe vỡ, móp hướng từ trước ra sau, kích thước (14 x 12)cm; dè chắn bùn bánh trước bị bể; yếm chắn gió bên trái, phải bị vỡ; mặt ngoài niềng bánh xe trước bên trái có vết bào mòn kim loại kích thước (01 x 1,4)cm; đầu chân thắng bằng kim loại bên phải có vết trầy xước kích thước (03 x 01)cm; đầu gác chân trước bên phải có vết trầy xước kim loại kích thước (1,5 x 1,5)cm; ruột bánh xe trước bị xì hết hơi.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 222/KLGĐTT-TTGĐYKPYBT ngày 07/11/2023 của Trung tâm giám định y khoa – pháp y tỉnh Bình Thuận kết luận nguyên nhân chết của Phan Thị Bích D như sau: Chấn thương sọ não nặng →Tử vong.
Phiếu xét nghiệm nồng đồ cồn trong máu của bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Thuận ngày 22/10/2023 thể hiện: nồng độ cồn trong máu của LÊ HOÀI T là 269mg/100dL.
Kết quả điều tra xác định: LÊ HOÀI T có giấy phép lái xe hạng A1 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Thuận cấp ngày 26/12/2012 (phù hợp với loại xe điều khiển).
Vật chứng thu giữ và xử lý:
Xe mô tô biển số 86B3-342.28 là tài sản của Phan Thị Bích D. Sau khi tạm giữ và làm rõ, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Hàm Thuận Bắc đã ra Quyết định xử lý vật chứng giao trả lại cho ông Phan Văn H là người đại diện theo pháp luật của Phan Thị Bích D theo đúng quy định.
Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 86B2-595.62; 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số AX 907188 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Thuận cấp ngày 24/12/2012 cho LÊ HOÀI T, được chuyển theo cùng hồ sơ vụ án.
Vật chứng còn lại 01 xe mô tô biển số 86B2 – 595.62 là của LÊ HOÀI T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc ra quyết định chuyển vật chứng, chuyển từ Cơ quan CSĐT - Công an huyện Hàm Thuận Bắc sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc bảo quản, chờ xử lý.
Về dân sự: Sau tai nạn ông Phan Văn H đại diện bị hại yêu cầu LÊ HOÀI T bồi thường số tiền 143.000.000đồng, gồm: 100.000.00đồng tiền tổn thất tinh thần; 40.000.000đồng tiền mai táng phí; 3.000.000đồng tiền sửa xe mô tô bị hư hỏng. LÊ HOÀI T chấp nhận số tiền yêu cầu bồi thường của đại diện bị hại. Đến nay, LÊ HOÀI T đã bồi thường số tiền 40.000.000đồng.
Tại bản cáo trạng số 56/CT-VKSHTB ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố: Bị cáo LÊ HOÀI T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo LÊ HOÀI T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo LÊ HOÀI T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Phạt LÊ HOÀI T từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo LÊ HOÀI T khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Thuận Bắc, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định:
Ngày 22/10/2023, LÊ HOÀI T có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số 86B2-595.62, có nồng độ cồn trong máu (269 mg/100ml) trên đường Quốc lộ 1A theo hướng Nam – Bắc. Khi đến Km1683+830, đoạn thuộc thôn 2, xã Hồng Sơn, huyện Hàm Thuận Bắc, Trọng điều khiển xe lưu thông ở làn đường ngoài cùng, không chú ý quan sát và không giữ khoảng cách an toàn với xe phía trước nên đã để xe tông vào đuôi xe mô tô biển số 86B3-342.28 do chị Phan Thị Bích D đang điều khiển cùng chiều phía trước, gây tai nạn giao thông, làm chị Diệu chết. Hành vi của LÊ HOÀI T đã vi phạm Khoản 8, Khoản 23 Điều 8, Khoản 1 Điều 12 và Khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ đã được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 35 Luật phòng chống tác hại của rượu, bia số 44/2019/QH14 ngày 14/6/2019 của Quốc hội.
LÊ HOÀI T có giấy phép lái xe hạng A1 số AX 907188 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Thuận cấp ngày 26/12/2012, bị cáo được học tập đầy đủ quy định về Luật giao thông đường bộ nhưng khi tham gia giao thông không tuân thủ các quy định dẫn đến hậu quả làm 01 người chết, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Bị cáo trực tiếp xâm phạm đến sự an toàn công cộng trong lĩnh vực giao thông đường bộ và tính mạng của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó, đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo LÊ HOÀI T khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình bị hại, có cô ruột và bác ruột là bà Lê Thị Lượng và ông Lê Văn Độ là liệt sỹ nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt cùng việc áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo một mức án tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật quy định như đề nghị của Viện kiểm sát là chưa phù hợp, chưa tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra.
[6] Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 86B2-595.62; 01 Giấy phép lái xe hạng A1, số AX 907188 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Thuận cấp ngày 24/12/2012 cho LÊ HOÀI T và 01 xe mô tô biển số 86B2 – 595.62.
[7] Về dân sự: Ông Phan Văn H, bà Nguyễn Thị Y, anh Trần Thanh P yêu cầu LÊ HOÀI T bồi thường số tiền 143.000.000đồng, gồm: 100.000.00đồng tiền tổn thất tinh thần; 40.000.000đồng tiền mai táng phí; 3.000.000đồng tiền sửa xe mô tô bị hư hỏng. Đến nay, LÊ HOÀI T đã bồi thường số tiền 40.000.000đồng còn lại số tiền 103.000.000đồng bị cáo chưa bồi thường. Tại biên bản làm việc ngày 20/01/2024 cũng như tại phiên tòa bị cáo LÊ HOÀI T chấp nhận bồi thường số tiền theo yêu cầu của đại diện bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến của bị cáo.
[8] Về các vấn đề khác:
Đối với ý kiến tranh luận của ông Phan Văn H, bà Nguyễn Thị Y, anh Trần Thanh P – là người đại diện theo pháp luật của bị hại về việc đề nghị tăng hình phạt cho bị cáo vì mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù là quá nhẹ đối với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên chấp nhận.
Bị cáo LÊ HOÀI T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 357, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 589; Điều 591 Bộ luật dân sự.
Căn cứ vào Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo LÊ HOÀI T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: LÊ HOÀI T 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Về dân sự: Buộc bị cáo LÊ HOÀI T có trách nhiệm bồi thường cho các đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 103.000.000đồng (Một trăm lẽ ba triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp có quy định khác.
Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo:
- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 86B2-595.62; 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số AX 907188 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Thuận cấp ngày 24/12/2012 cho LÊ HOÀI T, đang được lưu tại hồ sơ vụ án;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, số máy JA39E1551085, số khung RLHJA3914LY213358 gắn biển số 86B2 – 595.62, hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 23/5/2024.
Về án phí: Bị cáo LÊ HOÀI T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 5.150.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo và những người tham gia tố tụng (nếu có) có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/6/2023). Riêng những người tham gia tố tụng vắng mặt (nếu có) có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Sở tư pháp; -VKSND huyện HTB; - Công an huyện HTB; - Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Bắc; - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Hàm Thuận Bắc; - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Võ Văn THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Võ Văn |